Truyền thống Công an nhân dân

Đường Hồ Chí Minh trên biển - Nét sáng tạo, độc đáo của chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh

Lịch sử chiến tranh thế giới và nước nhà đã ghi nhận nhiều con đường vận tải mà sự ra đời của nó quyết định không nhỏ đến thắng lợi của cuộc chiến, nhưng có lẽ chưa từng có con đường vận tải nào lại đặc biệt như đường Hồ Chí Minh trên biển. Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành nhiệm vụ “vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”, đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành một phần quan trọng của lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một trong những biểu tượng đầy tự hào của dân tộc ta về ý chí, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và là sự sáng tạo, độc đáo của đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

1. Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện sự sáng tạo, độc đáo về phương thức chi viện cho chiến trường miền Nam

Sau khi Hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục trường kỳ kháng chiến. Tuy nhiên, đồng bào Nam Bộ lại thiếu thốn đủ thứ, nhất là vũ khí chiến đấu cho lực lượng vũ trang. Để giải quyết khó khăn, tạo hướng đột phá cho chiến trường Nam Bộ và các địa bàn ven biển miền Nam, ngày 19/5/1959, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559) có nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. Tiếp đó, tháng 7 - 1959, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn vận tải thủy 603, có nhiệm vụ mở đường trên biển vận chuyển vũ khí, hàng hóa và con người chi viện cho miền Nam. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn hoạt động dưới tên gọi “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”.

Từ giữa năm 1961 đến giữa năm 1962, lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh và Bà Rịa đã cử 5 thuyền gỗ từ miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí và sau đó trực tiếp vận chuyển vũ khí, dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả dạng tàu đánh cá từ Bắc vào Nam. Những chuyến thuyền vận chuyển thành công là một trong những cơ sở quan trọng để xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế vũ khí cho miền Nam. Ngày 23/10/1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải thủy đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh.

Ngay sau khi được thành lập, Đoàn 759 đã bắt tay ngay vào xây dựng đề án công tác của Đoàn. Nội dung đề án đã chỉ rõ: “Phương pháp vận chuyển là tận dụng những phương tiện thô sơ, nửa hiện đại, tương đối hiện đại, có thể hoạt động quanh năm, trong mọi thời tiết. Phương châm hoạt động: Kết hợp phương thức hợp pháp với bất hợp pháp, lấy phương thức hợp pháp là chủ yếu; quá trình vận chuyển phải chủ động, táo bạo, bất ngờ, linh hoạt đối phó với địch, khi bị lộ phải kiên quyết chiến đấu bảo vệ hàng, nếu cần thì hủy tàu phi tang” [1]. 

Quyết định thành lập Đoàn 759 là dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mới về hoạt động vận tải quân sự Bắc - Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Cùng với đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh), đường Hồ Chí Minh trên biển tạo thành hai tuyến vận tải chiến lược. Mỗi tuyến vận tải có vị trí và vai trò riêng, nhưng xét về tổng thể đã trở thành một hệ thống huyết mạch vận tải bằng đường thủy - phương thức chi viện mới, hiệu quả, thể hiện tư duy sáng tạo, độc đáo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện sự sáng tạo, độc đáo trong quá trình tổ chức thực hiện việc chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển

Với phương châm hoạt động phải “bí mật, bất ngờ”, những chiếc tàu của Đoàn 759 phải ngụy trang thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, xen kẽ, trà trộn vào những đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên biển, cũng từ đó, tên gọi “Đoàn tàu không số” ra đời.

Cùng với việc hoạt động bí mật, bất ngờ, trong quá trình tổ chức thực hiện việc chi viện cho chiến trường miền Nam, cán bộ, chiến sĩ “Đoàn tàu không số” đã nêu cao ý thức tự lực, tự cường, sáng tạo, làm chủ con tàu và vũ khí trang bị, chủ động nắm bắt tình hình, linh hoạt trong xử lý mọi tình huống, kết hợp cả hình thức bán công khai, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ để tạo thông suốt cho quá trình chi viện. Khi địch phong toả gần bờ, ta đi trên vùng biển xa; địch phong toả đường biển dài, ta đi từng phân đoạn; địch bám đuôi, ta đi ra vùng biển quốc tế; địch phát hiện, áp sát tấn công hoặc cướp tàu, ta đánh trả quyết liệt, có lúc phải phá hủy tàu và hàng để giữ bí mật nhiệm vụ; đồng thời ta cũng khéo léo kết hợp ngụy trang nghi binh, táo bạo, bí mật, bất ngờ, luồn sâu vào bến trong các kênh rạch, làng xã của dân. Với những chiến thuật tưởng chừng đơn sơ mà lại rất hiểm hóc, chính Nguyễn Hữu Chí - Phó Đô đốc hải quân của Quân đội Việt Nam cộng hòa đã từng phải thừa nhận: “… Trên thực tế, đối phương đã sử dụng biển khơi một cách thành thạo, mà việc di hành vào điểm đến càng tỏ ra đặc sắc hơn, làm kinh ngạc không ít chuyên viên đường biển…” [2].

3. Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện sự sáng tạo, độc đáo trong việc huy động sức mạnh của toàn dân tộc và quốc tế

Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759 luôn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy hiểm như sự khắc nghiệt của thời tiết phức tạp, sự truy lùng gắt gao của Hải quân Mỹ và Sài Gòn, nhưng nhờ “tình đoàn kết quân dân”, sự đùm bọc, yêu thương, che chở của nhân dân các địa phương ven biển từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, cho đến Bến Tre đã giúp cho các chuyến tàu được cập bến an toàn. Trong muôn vàn tấm lòng cao quý của nhân dân, ta có thể nhắc đến Má Mười Riều (Nguyễn Thị Mười) đã đóng góp 10 cây vàng cho cách mạng mua sắm thuyền và các vật dụng khác. Đặc biệt, Má Mười Riều còn gửi gắm người con trai của mình là anh Lê Hà vào đội tàu không số… Có thể khẳng định: Không có sức mạnh toàn dân tộc, con đường không được thông suốt; không có sức mạnh của toàn dân tộc, con đường không thể giữ được bí mật và không có sức mạnh của toàn dân tộc thì không thể có những chiến công hiển hách, không có huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển.

Cùng với phát huy sức mạnh toàn dân tộc, ta còn tranh thủ sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, bạn bè và nhân dân tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và Trung quốc, Cuba. Liên Xô đã viện trợ không hoàn lại về vật chất; Trung Quốc đã lựa chọn và dành cho Việt Nam một số cảng biển thuận lợi để tiếp nhận hàng hóa và ra khơi; khi tàu, thuyền ta bị nạn, gặp sự cố được bạn cấp cứu, cung cấp lương thực, thực phẩm, sửa chữa kịp thời. Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho tàu thuyền ta quá cảnh qua cảng biển của một số nước trong khu vực theo hải trình vận chuyển cũng góp phần quan trọng vào thành công của các chuyến tàu.

 

Bến Vũng Rô (Phú Yên) và con tàu không số đã trở thành di tích lịch sử của nước ta. Ảnh tư liệu

Dù chỉ tồn tại 14 năm (1961 - 1975), song những chiến công của “Đoàn tàu không số” đã khẳng định vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 nói riêng; là một biểu tượng sáng ngời của ý chí giải phóng dân tộc, khát vọng độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc; là nét sáng tạo, độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chiến tranh đã lùi xa nhưng những bài học kinh nghiệm quý báu mà đường Hồ Chí Minh trên biển để lại vẫn vẹn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng, gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo hiện nay./.

Bài: Khoa K1

 

----------------------- 

CHÚ THÍCH

1. Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển, Nxb Thông tấn xã Việt Nam, Hà Nội 2011, tr.220

2. Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển, Nxb Thông tấn xã Việt Nam, Hà Nội 2011, tr.175

arrow_upward