Nghiên cứu Luật

Một vài điểm mới về Quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp năm 2013

MỘT VÀI ĐIỂM MỚI VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH

TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013

Vũ Hùng Đức[*]

 

1.   Khái quát về quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam

Tự do kinh doanh là quyền cơ bản của công dân, được thừa nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phương Tây, nhưng lại không được nhìn nhận đúng đắn ở Việt Nam trong một thời gian dài. Trong hơn 40 năm xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, không chấp nhận kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh đã bị lãng quên, không được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Thậm chí, đã có thời kỳ, Đảng và Nhà nước coi sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, phải ngăn cấm triệt để.[1]

Tuy nhiên, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986), Đảng ta mạnh dạn thừa nhận “đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”[2] và tìm ra con đường phát triển mới: “đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác[3]... Giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”.[4]

Chủ trương này được thể hiện trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)[5] và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp 2013 (khoản 1 Điều 51): Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Không có nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế thì không thể có tự do kinh doanh. Vì vậy, chủ trương xây dựng, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước Việt Nam chính là nền tảng quan trọng nhất cho việc thừa nhận và bảo vệ quyền tự do kinh doanh ở nước ta, là điều kiện ra đời của quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam.

Tự do kinh doanh là một trong những biểu hiện của các quyền về tự do, dân chủ, biểu hiện của một nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường. Quyền tự do nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng không chỉ là mục tiêu của xã hội văn minh, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội.[6] Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới, Quốc hội đã khẩn trương ban hành các đạo luật ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân Việt Nam và người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Vào ngày 29/12/1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 (đạo luật đầu tiên cho phép tư bản nước ngoài được đầu tư kinh doanh tại Việt Nam); ngày 21/12/1990, Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 (hai đạo luật quan trọng bậc nhất về phát triển kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam) được Quốc hội thông qua.

Trong Luật Công ty 1990, khái niệm “kinh doanh” lần đầu tiên được luật hóa,[7] được kế thừa gần như nguyên vẹn trong Luật Doanh nghiệp 2005 (khoản 2 Điều 4) và Luật Doanh nghiệp 2014 (khoản 16, Điều 4): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Hiến pháp 1992, bản hiến pháp đầu tiên của thời kỳ Đổi mới và mở cửa, đã tuyên bố rõ ràng về quyền tự do kinh doanh của công dân tại Điều 57: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Đây là một quyền công dân chưa từng được ghi nhận trong các bản hiến pháp trước (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980). Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh trở thành một quyền hiến định ở Việt Nam, và quyền này tiếp tục được ghi nhận trong Hiến pháp mới (năm 2013) ở vị trí trang trọng hơn, với phạm vi rộng mở hơn: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33).

2.   Một vài điểm mới của quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp 2013

Một trong những điểm sáng nổi bật của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là những thay đổi về quyền con người, quyền công dân. Do đó, với tư cách là một quyền con người[8] cụ thể, quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp 2013 cũng có một số điểm khác biệt nổi bật so với Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Hướng thay đổi thứ nhất là chủ thể quyền tự do kinh doanh đã được
mở rộng.

Trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), quyền tự do kinh doanh được quy định ở Điều 57, nằm trong Chương V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân với nội dung: Công dân có quyền tự do kinh doanh...”. Như vậy, về mặt hình thức, chỉ có công dân Việt Nam mới có quyền tự do kinh doanh, những chủ thể không phải là công dân Việt Nam thì không có quyền này.

Đây là điểm hạn chế trong quy định về quyền con người, quyền công dân nói chung và về quyền tự do kinh doanh nói riêng của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Khắc phục hạn chế này, Hiến pháp 2013 đã phân biệt khá rạch ròi giữa quyền con người với quyền công dân, trả lại cho khái niệm “quyền con người” hình hài của nó, chứ không phải tồn tại dưới vỏ bọc của quyền công dân. Chương V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) được sửa đổi thành Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013. Quyền con người và quyền công dân được phân biệt bởi từ “mọi người” và từ “công dân”. Có những quyền chỉ dành riêng cho công dân Việt Nam, như quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22), quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí (Điều 25); có những quyền dành cho tất cả mọi người, như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 24), quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30).

Theo Điều 33 Hiến pháp 2013, Mọi người có quyền tự do kinh doanh...”. Như vậy, theo Hiến pháp 2013, quyền tự do kinh doanh được coi là quyền của mọi người, chứ không phải của riêng công dân Việt Nam. Hướng sửa đổi này đã khắc phục sự mâu thuẫn tồn tại bấy lâu nay giữa các đạo luật trong lĩnh vực kinh doanh với Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), bởi từ năm 1987, khi đạo luật Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được thông qua, chúng ta đã thừa nhận tự do kinh doanh không chỉ là đặc quyền của công dân Việt Nam mà còn là quyền Nhà nước Việt Nam dành cho các nhà tư bản nước ngoài có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam. Sự khác biệt giữa địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước tiếp tục được thu hẹp hơn nữa khi Luật Đầu tư 2005 ra đời và thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000).

Hướng thay đổi thứ hai là quyền tự do kinh doanh được mở rộng về phạm vi.

Trước đây, trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), quyền con người và quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và luật.[9] Việc quy định như vậy đã dẫn tới cách hiểu rằng Nhà nước (thông qua việc ban hành Hiến pháp và pháp luật) là chủ thể sản sinh, ban phát quyền công dân, quyền con người. Cách hiểu như vậy là không phù hợp với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người, vốn coi quyền con người là những giá trị tự nhiên của mọi cá nhân mà nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Chính vì vậy, những quy định nói trên trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã được sửa đổi, bổ sung thành: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013). Đồng thời, Hiến pháp 2013 còn đưa ra một ranh giới an toàn cho quyền con người, quyền công dân bằng lời cam kết: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14 Hiến
pháp 2013).

Điều 14 Hiến pháp 2013 có thể được coi như là một nguyên tắc ghi nhận thái độ trân trọng của Nhà nước Việt Nam đối với quyền con người, quyền công dân. Việc áp dụng nguyên tắc này vào quyền tự do kinh doanh đã dẫn tới hệ quả là quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57 Hiến pháp 1992) đã được sửa đổi thành “quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 33 Hiến pháp 2013).

Tinh thần này đã được thể hiện rất rõ trong Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua vào sáng ngày 26/11/2014.

Nội dung cơ bản nhất được thay đổi trong Luật Đầu tư là phương pháp tiếp cận “chọn – cho” trước đây (luật quy định những lĩnh vực được phép đầu tư kinh doanh) sang phương pháp “chọn – bỏ” (cái gì cấm, hạn chế thì ghi vào trong luật). Theo giải trình tại Báo cáo số 767/BC-UBTVQH13 ngày 04/11/2014, trên cơ sở kết quả rà soát số lượng ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh hiện hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và thống nhất với các bộ, ngành hữu quan thu hẹp từ 51 lĩnh vực ngành, nghề, hàng hóa, dịch vụ xuống còn 6 ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư 2014.

Trong Luật Doanh nghiệp 2014, ngành nghề kinh doanh không còn là nội dung bắt buộc trong Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh. Trước đây, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, ngành, nghề kinh doanh là một nội dung bắt buộc trong Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh,[10] nghĩa là doanh nghiệp phải đăng ký tất cả các ngành, nghề dự định kinh doanh khi làm thủ tục đăng ký kinh doanh, và chỉ được kinh doanh những ngành, nghề được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Theo nhận định của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong phiên họp thảo luận về dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi chiều ngày 10/11/2014, “quy định này chỉ mang tính thủ tục hành chính, gây phiền hà không cần thiết và gây rủi ro cho
doanh nghiệp”
.

Chính vì vậy, theo quy định tại Điều 29 Luật doanh nghiệp 2014 về Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh không còn là một nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.[11] Đây là một bước tiến nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đăng ký kinh doanh, chuyển thủ tục đăng ký kinh doanh từ ‘tiền kiểm’ sang ‘hậu kiểm’ nhằm nâng cao tính chủ động, linh hoạt cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, thể hiện “quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013.

Tóm lại, so với Hiến pháp 1992, hiến pháp đầu tiên ghi nhận quyền tự do kinh doanh, Hiến pháp 2013 có những thay đổi gần như là ‘lột xác’ trong quy định về quyền tự do kinh doanh. Chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh, phạm vi quyền tự do kinh doanh đã được mở rộng đáng kể, tạo nền tảng pháp lý để tháo gỡ những ‘vòng kim cô’ khỏi hoạt động của doanh nghiệp, góp phần giải phóng năng lực đầu tư, kinh doanh của các chủ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được tự do kinh doanh làm giàu chính đáng, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội./.

V.H.Đ

Đăng trên Tạp chí Khoa học và Giáo dục An ninh, Số đặc biệt (12-2014). ISSN 1859-4115 (tr. 73-76)


[*] Thượng úy, GV Bộ môn Pháp luật, T47


[1] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976) đã tuyên bố: “để xây dựng quyền làm chủ tập thể về kinh tế, phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, bằng những phương pháp và bước đi thích hợp”.

Hiến pháp 1980 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản đều bị quốc hữu hóa không bồi thường” (Điều 25); Nhà nước tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn bằng những hình thức thích hợp”
(Điều 26).

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.15-16.

[3] “Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác”, xem sđd, tr. 44.

[4] Sđd, tr. 43.

[5] “Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (Điều 15).

[6] Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.43.

[7] “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (khoản 2, Điều 3 Luật Công
ty 1990).

[8] Điều 33, Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp 2013.

[9] Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và luật
.

Điều 51: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”.

[10] Xem khoản 3 Điều 21 Luật Doanh nghiệp 2005.

[11] Xem Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Tags quyentudokinhdoanh

arrow_upward