Nghiên cứu Luật

Một số nhận thức về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự

MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP TỪ CHỐI THỰC HIỆN YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ

Thiếu tá, Thạc sỹ Vũ Văn Hùng

Giảng viên Khoa Luật

 

 

Những năm gần đây, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia diễn ra ngày càng nhiều. Xu thế đó đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác chặt chẽ với nhau trong đấu tranh phòng chống tội phạm, đó là yêu cầu khách quan mà các quốc gia cần quan tâm thực hiện, trong đó Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Trước tình hình đó, Đảng ta xác định: tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp là một trong tám nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược cải cách tư pháp hiện nay[1], trong đó, tương trợ tư pháp (TTTP) về hình sự là một nội dung đặc biệt quan trọng.

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, các quốc gia đều quy định về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự. Là vấn đề quan trọng song từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự chưa được quan tâm nghiên cứu sâu. Ngoài ra, mặc dù pháp luật nước ta có văn bản quy định các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự, nhưng tới nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để thống nhất trong nhận thức và áp dụng. Bài viết này xin đề cập một số khía cạnh về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Tương trợ tư pháp về hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước này thực hiện hành vi tố tụng hay hoạt động tố tụng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước khác trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia tương ứng. Nội dung tương trợ tư pháp phụ thuộc vào yêu cầu tương tương trợ tư pháp trên cơ sở điều ước quốc tế ký kết hoặc gia nhập, tuy nhiên có thể thể khái quát gồm: tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự; dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án; thực hiện các hoạt động điều tra; cung cấp thông tin, tài liệu, vật chứng, kết luận giám định; tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng…

Với cách tiếp cận đó, từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được yêu cầu không thực hiện những hành vi hoặc hoạt động tố tụng mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước khác yêu cầu[2].

Thực tiễn lập pháp cho thấy, từ chối tương trợ tư pháp có thể được pháp luật quy định là tuyệt đối (pháp luật quy định bắt buộc phải từ chối) hoặc tùy nghi (tùy từng trường hợp cụ thể có thể quyết định từ chối)5. Trong trường hợp tùy nghi, trên cơ sở quy định của pháp luật, cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu xem xét để quyết định từ chối hay thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định quyền tùy nghi trong từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp tại Điều 342 Bộ luật TTHS năm 2003. Trên cơ sở quy định chung này, Luật TTTP số 08/2007/QH12 được Quốc hội khóa XII  thông qua ngày 21/11/2007 (tại kỳ họp thứ 2), đã quy định cụ thể hơn về các trường hợp từ chối TTTP về hình sự. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác định có thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự của nước ngoài hay không.

2. Theo quy định tại Điều 21 Luật TTTP năm 2007, cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự khi có một trong 05 căn cứ sau đây[3]:

- Không phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các quy định của pháp luật Việt Nam.

Để có thể thực hiện TTTP về hình sự, ngoài quy định của pháp luật quốc gia, các nước phải ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế đa phương, song phương về TTTP về hình sự. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn nhiều điều ước quốc tế đa phương, như: 03 công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy; Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và 03 nghị định thư bổ sung cho Công ước này; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; 08 điều ước quốc tế về chống khủng bố; Công ước quốc tế về quyền trẻ em và các nghị định thư bổ sung; Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN[4]. Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng đã tích cực đàm phán và ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương về TTTP hình sự. Tính đến tháng 9/2010, Việt Nam đã ký 26 hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với các nước trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án[5]. Tại các điều ước quốc tế song phương và đa phương nêu trên đều có các quy định cụ thể về trách nhiệm của các quốc gia trong TTTP về hình sự. Theo đó, khi có yêu cầu TTTP về hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải nghiên cứu, xem xét yêu cầu TTTP có phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập cũng như quy định của pháp luật Việt Nam hay không, nếu yêu cầu TTTP trái với các quy định này thì cơ quan có thẩm quyền từ chối thực hiện.

- Gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia.

Chủ quyền, an ninh quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình.  Trong phạm vi lãnh thổ, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định mọi vấn đề đối nội, đối ngoại trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Để bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, quốc gia có quyền tư chối thực hiện TTTP về hình sự nếu yêu cầu đó gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, phù hợp với pháp luật và tập quán quán tế, đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập. Vì vậy, khi tiếp nhận các yêu cầu TTTP về hình sự, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam từ chối thực hiện nếu xét thấy việc thực hiện yêu cầu TTTP gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia Việt Nam.

- Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia diễn ra ngày càng nhiều. Trong bối cảnh đó, nhiều trường hợp hai hay nhiều quốc gia đều có thẩm quyền tài phán đối với một hay nhiều đối tượng phạm tội. Vì vậy, phù hợp với nguyên tắc một hành vi phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự một lần và thực hiện nguyên tắc nhân đạo, pháp luật hầu hết các nước đều có quy định về việc từ chối TTTP hình sự có liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại quốc gia được yêu cầu. Điểm c, khoản 1, Điều 21 Luật TTTP Việt Nam năm 2007 quy định đây là một trong các trường hợp cơ quan có thẩm quyền có quyền từ chối TTTP về hình sự. Quy định này phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc gia và pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn TTTP về hình sự thời gian qua.

- Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam.

Để cụ thể hóa chính sách nhân đạo trong xử lý người phạm tội, hầu hết các quốc gia đều quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định đó, nếu đã qua một khoảng thời gian nhất định từ lúc thực hiện tội phạm mà người phạm tội không cố ý trốn tránh, không phạm tội mới thì họ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện. Bộ luật hình sự Việt Nam quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể đối với từng loại tội[6]. Có thể thấy, việc quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là đòi hỏi khách quan, theo đó, quy định về từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự nếu yêu cầu đó liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là hết sức cần thiết. Quy định này còn là sự cụ thể hóa một trong những nguyên tắc cơ bản được quy định trong Luật mẫu của Liên hợp quốc về TTTP về hình sự và các hiệp định TTTP về hình sự mà Việt Nam đã ký kết.

- Liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam.

Để đảm bảo quyền con người, pháp luật quốc tế nói chung và luật hình sự quốc tế nói riêng quy định về nguyên tắc tội phạm kép. Theo nguyên tắc này, các quốc gia có quyền từ chối TTTP về hình sự nếu yêu cầu đó liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước được yêu cầu. Vì vậy, điểm đ, khoản 1, Điều 21 Luật TTTP quy định cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam từ chối TTTP về hình sự nếu có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện nguyên tắc này cho thấy có nhiều yêu cầu TTTP về hình sự đương nhiên bị từ chối bởi lẽ cùng một hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng có quốc gia quy định là tội phạm, có quốc gia lại không coi đó là hành vi phạm tội. Để khắc phục tình trạng này, thực tiễn TTTP đã ghi nhận quy định mềm hơn khi thực hiện nguyên tắc này, đó là: nếu nước được yêu cầu tương trợ thấy rằng yêu cầu giúp đỡ điều tra, truy tố, xét xử về một hành vi cần thiết phải bị trừng phạt và việc thực hiện yêu cầu này không xâm phạm lợi ích công cộng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội của mình thì có thể thực hiện và bỏ qua nguyên tắc này[7]. Theo đó, hành vi phạm tội nêu trong yêu cầu tương trợ không nhất thiết phải mang cùng một tội danh theo quy định của pháp luật quốc gia được yêu cầu, mà quan trọng là hành vi đó phải hội đủ những yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản tương đương theo quy định của pháp luật quốc gia được yêu cầu. Việc bổ sung vấn đề này là rất cần thiết trong thực tiễn TTTP về hình sự.

3. Từ việc nghiên cứu các trường hợp từ chối TTTP về hình sự như trên, có thể nhận thấy quy định của Luật TTTP năm 2007 về từ chối TTTP so với các quy định khác của pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập cùng về vấn đề này chưa hoàn toàn thống nhất, cụ thể:

Một là, không thống nhất với quy định của Bộ luật TTHS hiện hành.

Như chúng ta vừa đề cập, Luật TTTP quy định 5 trường hợp từ chối thực hiện TTTP hình sự, trong khi đó, Điều 342 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định 02 trường hợp từ chối thực hiện TTTP về hình sự, cụ thể: một là, yêu cầu TTTP không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và pháp luật của Việt Nam; hai là, việc thực hiện yêu cầu TTTP gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam (thực chất là 2 trường hợp đầu tiên trong Luật TTTP). Tất nhiên, trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền sẽ ưu tiên áp dụng các quy định của Luật TTTP. Tuy nhiên, có thể thấy cùng là văn bản luật về cùng một vấn đề nhưng quy định về các trường hợp từ chối TTTP về hình sự trong Bộ luật TTHS và Luật TTTP không hoàn toàn thống nhất vấn đề cần phải xem xét và khắc phục.

Hai là, không thống nhất với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

- Trong nhiều hiệp định TTTP về hình sự giữa Việt Nam và một số quốc gia chỉ quy định 02 trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự giống như quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam hiện hành, như Hiệp định giữa Việt Nam với Mông Cổ, Liên Bang Nga, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Belarus[8]...

- Trong một số Hiệp định TTTP mà Việt Nam ký kết với một số nước lại đề cập đến nhiều trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự mà các Hiệp định được ký kết trước đó và pháp luật Việt Nam chưa có quy định, ví dụ:

+ Hiệp định TTTP về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên có quy định trường hợp  yêu cầu tương trợ liên quan đến tội phạm mà bên được yêu cầu coi là tội phạm có tính chất chính trị hoặc quân sự thuần tuý; hoặc có đủ căn cứ cho rằng yêu cầu tương trợ được đưa ra nhằm truy tố hoặc trừng phạt một người vì lý do chủng tộc, giới tính, tôn giáo, quốc tịch hoặc chính kiến việc thực hiện yêu cầu tương trợ sẽ làm cho người đó bị thành kiến vì các lý do như vậy... thì cơ quan có thẩm quyền có quyền từ chối[9].

+ Điều 3 Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN còn quy định các trường hợp có thể từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự như: quốc gia yêu cầu không cam kết rằng quốc gia đó sẽ có khả năng thực hiện yêu cầu tương trợ về hình sự với tính chất tương tự trong tương lai của quốc gia được yêu cầu; hoặc quốc gia yêu cầu không cam kết rằng vật được yêu cầu sẽ không bị sử dụng vào việc nào khác ngoài vấn đề hình sự nêu trong yêu cầu và quốc gia được yêu cầu đã không đồng ý cho từ  bỏ cam kết đó... Thậm chí, Hiệp định này còn quy định quốc gia được yêu cầu có thể từ chối tương trợ nếu việc thực hiện tương trợ sẽ tạo ra gánh nặng tài chính quá mức đối với nguồn lực của quốc gia được yêu cầu[10].

Ba là, việc nhận thức các trường hợp từ chối thực hiện TTTP về hình sự là quy phạm tuyệt đối hay quy phạm tùy nghi vẫn chưa có sự thống nhất, quy định của pháp luật hiện hành lại chưa có sự rõ ràng. Cụ thể:

Bộ luật TTHS 2003 quy định 02 trường hợp từ chối thực hiện ủy thác về tư pháp hình sự là "tùy nghi", theo đó cơ quan thẩm quyền có thể từ chối hoặc không từ chối. Tuy nhiên, Hiệp định TTTP năm 2007 quy định "ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây…", ta có thể hiểu đây là quy phạm "tuyệt đối", tức là cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải từ chối khi rơi vào các trường hợp này.

Hầu hết các Hiệp định TTTP song phương hoặc đa phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập lại phân chia rất rõ thành 02 nhóm, nhóm quy phạm tuyệt đốinhóm các quy phạm tùy nghi, tức là có trường hợp thì bắt buộc phải từ chối, có trường hợp thì có thể từ chối hoặc không từ chối thực hiện. Rõ ràng các quy định này không hoàn toàn thống nhất với quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003 và Luật TTTP năm 2007. Và khi có sự xung đột pháp luật, theo thông lệ quốc tế cũng như theo quy định của pháp luật Việt Nam[11], trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế không thống nhất về cùng một vấn đề thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế. Vì lẽ đó, khi tiếp nhận yêu cầu TTTP, mặc dù yêu cầu đó pháp luật Việt Nam quy định thuộc các trường hợp từ chối thực hiện nhưng trong điều ước quốc tế song phương, đa phương mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập lại không quy định thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không được từ chối và ngược lại. Đồng thời, việc xác định yêu cầu TTTP về hình sự là tuyệt đối hay tùy nghi cũng ưu tiên áp dụng quy định trong Hiệp định TTTP song phương, đa phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

4. Từ sự phân tích trên, chúng tôi nhận thấy về phương diện lập pháp cần có sự thống nhất trong các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Vì vậy, đã đến lúc cơ quan có thẩm quyền cần nghiêm túc rà soát, nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự, trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung để thống nhất các quy định này, tạo thuận lợi cho nhận thức cũng như áp dụng pháp luật.

Trên cơ sở nghiên cứu, bước đầu chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất góp phần từng bước khắc phục tình trạng này như sau:

Thứ nhất, bỏ quy định của Bộ luật TTHS về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự. Theo chúng tôi, Bộ luật TTHS chỉ nên quy định những vấn đề chung liên quan đến hợp tác quốc tế trong TTHS, còn những vấn đề cụ thể như nội dung này nên được cụ thể hóa trong Luật TTTP và các văn bản dưới luật.

Thứ hai, bổ sung quy định của Luật TTTP về các trường hợp từ chối thực hiện TTTP về hình sự theo hướng mở, tức là ngoài 05 trường hợp như hiện nay nên có thêm quy định "và các trường hợp khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập".

Thứ ba, quy định rõ trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự nào là quy phạm tuyệt đối (bắt buộc phải từ chối), trường hợp nào là quy phạm tùy nghi (có thể từ chối) trong Luật TTTP để có sự phù hợp nhất định với các Hiệp định TTTP song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập.

 

 

 

                                                    

Tác giả

 

 

 

 

Vũ Văn Hùng

 



[1] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 02/6/2005, Hà Nội.

[2] Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, Tr. 576.

[3] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Tương trợ tư pháp, Hà Nội.

[4] Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Văn Công (2009), Tương trợ tư pháp về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.62-76.

[6] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, Điều 23, Điều 24.

[7] Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao (2008), Thông tin khoa học xét xử số 2 năm 2008 (số 38 năm thứ 7), Hà Nội, tr.42-43.

[8] Xem Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mông Cổ, ngày 17/4/2000; Hiệp định TTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga, ngày 25/8/1998; Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ba Lan, ngày 22/3/1993; Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Belarus, ngày 14/9/2000.

[9] Hiệp định TTTP về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ngày 03/5/2002, Điều 10.

[10] Hiệp định TTTP về hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước ASEAN, ngày 29/11/2004, Điều 3.

[11] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, Hà Nội, Điều 6.

 

 

Tạp chí Khoa học và Giáo dục an ninh, số 42, tháng 5 năm 2015, trang 57-62.

 

 

Tags tuongtrotuphaphinhsu

arrow_upward