Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - hành trình hiện thực hóa khát vọng “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của dân tộc Việt Nam

Thiếu tướng, PGS, TS. Phan Xuân Tuy

 Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng  Trường Đại học An ninh nhân dân

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), khi khẳng định đất nước ta chưa bao giờ có “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đồng thời tái khẳng định, nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” [1, tr.88] của tư tưởng Hồ Chí Minh, công lao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Trong đó, công lao to lớn, có ý nghĩa quyết định của Người là đã “khai sông, mở lối” - tìm ra con đường đúng đắn và lãnh đạo cách mạng Việt Nam giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hành trình ấy bắt đầu với sự kiện ngày 05/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tên gọi của Hồ Chí Minh thời trẻ) rời bến cảng Nhà Rồng, Sài Gòn lên con tàu Amiral Latouche Tréville của Pháp làm anh Ba phụ bếp:

“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi,

Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác…”

(Chế Lan Viên - “Người đi tìm hình của nước”)

Bến Nhà Rồng những năm đầu thế kỷ XI

Con tàu Amiral Latouche Tréville của Pháp nơi Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) làm nghề phụ bếp


Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) đang phụ bếp


Vậy, động lực nào đã thôi thúc người thanh niên trẻ tuổi ấy lên đường chỉ với hai bàn tay trắng và ý tưởng “vừa đi, vừa lao động để kiếm sống”? Có thể khẳng định rằng, chính lòng yêu nước, thương dân và khát vọng giải phóng dân tộc, đem no ấm, hạnh phúc cho nhân dân, tức là khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được hình thành từ bối cảnh gia đình, quê hương, đất nước những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là động lực quan trọng nhất cho hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh.

Lòng yêu nước, thương dân, khát vọng giải phóng dân tộc, đem no ấm, hạnh phúc cho nhân dân (khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội) hình thành từ bản chất gia đình cần cù, gương mẫu, sống nhân nghĩa.

Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862 - 1929), thân phụ của Người là một nhà Nho giàu lòng yêu nước, thương dân, lao động cần cù, có ý chí kiên cường vượt qua khó khăn, gian khổ để đạt mục tiêu, chí hướng. Ông Nguyễn Sinh Sắc lúc thiếu thời không có điều kiện đi học ở trường. Ông tự học, nhờ bạn bày cho, đứng ngoài hiên nghe thầy giảng - một tấm gương cần học, tự học. Đến khi làm rể của thầy Đồ Hoàng Xuân Đường, gia đình ông Sắc vẫn là gia đình nông dân lao động.

Mẹ của Hồ Chí Minh - bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901) là một người đôn hậu, đảm đang, sống chan hòa với mọi người. Tuy là con một nhà Nho, sinh hoạt của bà không khác gì con em gia đình nông dân nghèo trong làng Hoàng Trù. Sách “Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ” của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nghệ An viết: “Ngôi nhà vợ chồng ông Sắc có ba gian, làm bằng tre gỗ trong vườn, lợp tranh. Đêm đêm dưới ánh sáng đèn dầu lạc, ông Sắc đọc sách, bà Loan kéo sợi dệt vải… Những năm tháng tuổi ấu thơ của ba chị em Nguyễn Sinh Cung được cha mẹ nuôi dưỡng trong ngôi nhà nhỏ bé này. Tại đây, một chiếc võng mắc bên cạnh giường nằm và khung dệt vải của mẹ, biết bao nhiêu bài ca, bài vè, điệu ru con mang nặng tình nghĩa nước non và đạo lý làm người đã đi sâu vào tâm hồn non trẻ của ba chị em cậu …” [Dẫn theo 3, tr.110-111]

Tư tưởng trọng dân, thân dân, lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách kinh tế - xã hội của người cha Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách Hồ Chí Minh. Khi ông Sắc đỗ đại khoa (Phó bảng), ông đã để lại một bài học khắc cốt ghi tâm cho cậu bé Cung 11 tuổi về đức khiêm tốn, giản dị, gần gũi với nhân dân. Cũng sách trên có ghi: “Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, được vua ban áo mão, cờ biển và cho ngựa trạm rước về quê. Được lệnh quan Tổng đốc Nghệ An, dân làng Kim Liên, Hoàng Trù mang trống chiêng, cờ quạt, võng điều xuống Vinh đón ông Sắc. Dân làng đang đi trên đường thì gặp ông Sắc khăn gói khoác vai, đi bộ về nhà. Làng khẩn khoản mời ông lên võng, ông không chịu. Dân phu giương cờ quạt, mở trống chiêng mừng đón, ông không cho. Ông khuyên mọi người lặng trống chiêng, cuốn cờ quạt, cùng ông đi bộ về làng” [Dẫn theo 3, tr.111]. Chủ tịch Hồ Chí Minh về sau sẽ tỏ ra không quên bài học của cha.

Khi về làng, được dân làng cắt cho 1 mẫu 7 sào đất ruộng, 4 sào đất vườn làm bổng lộc nhưng ông Sắc quyết không nhận. Ông nói: “Chẳng hóa ra việc đỗ đại khoa của tôi chưa thấy cái vinh dự cho dân làng là đâu mà lại là cướp ruộng, tức là cướp bát cơm của dân rồi”… Khi làm tri huyện Bình Khê, sau 2 ngày xử án mà bị can chưa nhận tội. Đến lúc ông đập bàn hăm dọa thì bị can liền thú tội. Ông thử làm lại việc này với người lính lệ và đĩa tôm, kết quả người lính lệ cũng nhận tội dù thật ra chính ông đã giấu đĩa tôm đi. Từ đó, ông Sắc đau đớn bảo Nguyễn Tất Thành: “Làm quan dẫu có giữ mình trong sạch cũng không tránh được hết lỗi lầm. Chỉ một mình gieo oan thì cũng phải ba đời mình chịu oán… Sẽ thất đức con ạ. Thôi, đi đi con! Nước mất con đi tìm nước… Sớm muộn rồi cha cũng sẽ là nạn nhân chứ không thể là kẻ sát nhân trên cái ghế quan trường này” [11, tr.239].

Thân phụ, thân mẫu Hồ Chí Minh đã dạy cho người những bài học đạo đức, nhân cách đầu tiên. Theo gương sáng cha mẹ cũng là hiếu thảo. Anh trai Người, ông Nguyễn Sinh Khiêm (1888 - 1950) và chị gái, bà Nguyễn Thị Thanh (1884 - 1954) cũng là những người yêu nước, không lập gia đình, thường tìm tới những nơi có phong trào yêu nước của nhân dân để tìm hiểu, tham gia… Có thể khẳng định, gia đình là nền tảng xây dựng nhân cách và chí hướng cứu nước của Hồ Chí Minh.


Tượng đài Nguyễn Tất Thành tại Bến Nhà Rồng ngày nay

Lòng yêu nước, thương dân, khát vọng giải phóng dân tộc, đem no ấm, hạnh phúc cho nhân dân hình thành từ bối cảnh quê hương Nghệ Tĩnh, một mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, mảnh đất “địa linh nhân kiệt”; trí tuệ và đậm chất văn hóa.

Nơi đây đã nuôi dưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung; các lãnh tụ yêu nước thời cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu; các nhà giáo giỏi và giàu lòng yêu nước, phần lớn từng dạy học cho Nguyễn Sinh Cung/Tất Thành như Vương Thúc Quý, Trần Thân, Vương Thúc Độ, Lê Văn Miến. Xã Chung Cự (gồm 2 làng Kim Liên và Hoàng Trù, quê nội và quê ngoại của Hồ Chí Minh), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh (nay thuộc tỉnh Nghệ An) đã làm cho tình cảm và tư tưởng yêu nước của Người sớm nảy nở. Chỉ nói riêng vùng quê nhà của Hồ Chí Minh cũng đã có thể coi như một bảo tàng lịch sử. Ông Sắc thường dắt anh em cậu Cung đi đến các nơi có di tích như:

- Núi Chung, một thắng cảnh trong xã nhà là nơi tú tài Vương Thúc Mậu họp nghĩa quân, cắt máu ăn thề, dựng cờ Cần Vương theo hịch của Hàm Nghi.

- Giếng Cóc, ngay trước nhà cậu Cung - nơi dân làng lấy nước uống - là nơi lính Pháp bắt dân làng tát cạn nước để tìm vũ khí của Chung nghĩa quân.

- Ao làng Sen, nằm bên đường cậu Cung đi học, là nơi anh hùng Vương Thúc Mậu tử tiết khi bị quân Pháp bao vây.

- Cạnh nhà thờ họ Nguyễn Sinh là nhà của Nguyễn Sinh Quyền, một chiến sỹ Chung nghĩa quân. Sau khi tú tài Vương Thúc Mậu chết rồi thì dẫn quân vào núi Vũ Quang với Phan Đình Phùng. Khi khởi nghĩa Hương Khê thất bại, Phan Đình Phùng chết thì Nguyễn Sinh Quyền bị Pháp bắt đem về chém ngay tại làng Kim Liên. Cậu bé Cung biết và chứng kiến tất cả những sự việc đó.

Vậy, quê hương nhỏ của Hồ Chí Minh đúng là một vùng tập trung nhiều di tích lịch sử cứu nước. Sinh ra, lớn lên ở đây tất có điều kiện để sớm nung nấu lòng yêu nước, chống ngoại xâm.

Quê hương Hồ Chí Minh còn là mảnh đất “trí tuệ” và đậm chất văn hóa. Sử sách có ghi: trong 96 kì thi hương từ năm 1635 đến 1890, riêng làng Kim Liên có 53 vị khoa bảng, làng Hoàng Trù có 29 vị. Vị chi là 82 ông tú, ông cử trong một xã Chung Cự. Đất thì sỏi đá, người thì trí tuệ. Giáo sư Ninh Viết Giao cho rằng Nghệ Tĩnh là vùng “giáp lưu văn hóa” giữa văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa, đã tự mình trở thành vùng đất “văn vật” Việt Nam. Từ Ngô đến Lê, các triều đại đều gửi các vị quan tài ba đức độ vào đây quản lý: Đinh Công Trứ, Lê Long Toàn, Lý Đạo Thành, Trần Quang Khải, Hồ Nguyên Trừng, Lê Khôi…[3, 110]

Tắm gội trong dòng sông văn hóa đó, Hồ Chí Minh với trí thông minh tuyệt vời, nghị lực lớn lao và lòng yêu nước nẩy nở sớm, ngay từ nhỏ đã thu vào mình những tinh hoa của xứ sở, những trăn trở của khổ đau, những ưu tư dào dạt, những mơ ước khát khao, những căm giận uất hờn, những quyết tâm sắt đá của bao kiếp sống, bao nỗi niềm quê hương; lớn dần lên thành khát vọng, quyết tâm phải tìm con đường giải phóng dân tộc, cởi bỏ ách nô lệ cho nhân dân.


Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Đại học An ninh nhân dân

Lòng yêu nước, thương dân, khát vọng giải phóng dân tộc, đem no ấm, hạnh phúc cho nhân dân hình thành và phát triển mạnh mẽ khi chứng kiến cuộc sống khổ cực, điêu đứng của nhân dân và tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh.

Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã đau xót chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị đàn áp, bị bóc lột đến cùng cực của đồng bào mình ngay trên mảnh đất quê hương; những tội ác của bọn thực dân và thái độ ươn hèn, bạc nhược của bọn quan lại Nam triều… Cậu bé Cung hỏi cha mẹ khi thăm thành Vinh và kinh thành Huế:

- “Răng cái ông to đùng, bụng phệ lại nằm trên xe bắt ông gầy gò kéo đi hở cha?”.

- “Con thấy số người nghèo nhiều hơn số người giàu phải không cha?”, “số kẻ giàu chỉ bằng cái chóp nón mà người nghèo nhiều như cái vành nón, cha nhỉ”.

- “Con thấy vua, người nhà vua và các quan trong triều mặt mũi đều bình thường như mọi người mà sao họ sướng gấp vạn lần. Còn dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu hở mẹ?...” [11, tr.64, 78, 101].

Vào Sài Gòn trước khi sang Pháp, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc đang đi trên phố cùng người bạn tên Lê, thấy mọi người cùng hô hào đuổi đánh hai tên kẻ cắp và đưa chúng vào đồn cảnh sát Tây, đã nghẹn ngào nói nhỏ với Tư Lê: “Kẻ ăn cướp cả giang sơn mình, cả nòi giống mình thì chẳng thấy ai hô hào đứng lên đánh đuổi” [11, tr.284].

Trò chuyện với thầy giáo Lê Văn Miến - người thầy dạy ở trường Quốc Học - Huế, Tất Thành băn khoăn: “Các bậc tiền nhân, các nhà khoa bảng đã dám đứng ra chống người Pháp, rất đáng kính phục, nhưng chỉ là lấy gậy chọc trời. Rốt cuộc hết thất bại này đến thất bại khác. Lớp người tai mắt như Trần Cao Vân, Phan Chu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàm, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Ngôn đều bị gông cổ đày đi biệt xứ. Quan nghè Trần Quý Cáp bị chặt đầu, mất xác, Phan Bội Châu và những đồng chí của ông hiện đang sống lênh đênh, phiêu bạt trên đất Phù Tang, đất Tàu…” [11, tr.223]. Tất cả đã thôi thúc Người ra đi tìm một con đường mới để cứu nước, cứu dân.

Sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” khẳng định: “Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên, anh đã sớm hiểu và rất đau xót trước thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đã có ý đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh khâm phục cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, nhưng không tán thành hoàn toàn cách làm của một người nào” [10, tr.13]. Vì vậy, trong khi Phan Bội Châu đi về phương Đông thì Nguyễn Tất Thành đi về phương Tây, bước vào “đại bản doanh” của chủ nghĩa tư bản để tìm hiểu cho rõ những kẻ đang áp bức, bóc lột dân tộc mình và hoàn cảnh của các nước thuộc địa khác trên thế giới. Lịch sử đã chứng minh đó là một con đường đúng đắn…

Theo chân Người, cả dân tộc Việt Nam đang từng bước hoàn thành cuộc trường chinh đi đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Khát vọng phát triển đất nước, phục hưng dân tộc của Người cần tiếp tục được nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, biến thành thực tiễn sinh động, thuyết phục và bền vững. Trên tinh thần đó, Trường Đại học An ninh nhân dân đã ban hành Quyết định số 1516/QĐ-T04-P4 ngày 09/12/2020 của Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân về “Tầm nhìn, sứ mạng, văn hóa, triết lý giáo dục” của Trường, với nội dung như sau:

- Tầm nhìn: “Đến năm 2030, Trường Đại học An ninh nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và hội nhập; là trung tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tham mưu chiến lược có uy tín cao của lực lượng Công an nhân dân”.

- Sứ mạng: “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; trung tâm nghiên cứu khoa học, tham mưu chiến lược có uy tín cao; lực lượng dự bị, sẵn sàng chiến đấu của lực lượng Công an; là một trong các trung tâm hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo của Bộ Công an”.

- Văn hóa: “Đoàn kết - Nhân văn - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới - Phát triển”.

- Triết lý giáo dục: “Thái độ chuẩn mực; kiến thức toàn diện; kỹ năng thuần thục; phụng sự Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, phục vụ Nhân dân”.

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, 80 năm ngày Bác trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam; trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa thành công rất tốt đẹp; cả nước đang nỗ lực, kiên quyết thực hiện “mục tiêu kép” trong “trạng thái bình thường mới”; công tác học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Cùng với việc xác định, thực hiện tầm nhìn, sứ mạng, văn hóa và triết lý giáo dục; ghi nhớ công ơn trời biển của Bác kính yêu, toàn Đảng bộ Trường Đại học An ninh nhân dân đang quyết tâm đem hết “tinh thần và lực lượng”, ra sức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Nhà trường lần thứ XV. Đảng bộ đã đề ra chủ trương, Chương trình hành động thực hiện nghị quyết các đại hội nhằm cụ thể hóa mục tiêu và các nhiệm vụ cụ thể về phát triển Nhà trường trong nhiệm kỳ 2020 - 2025. Xây dựng, hoàn thiện các nghị quyết chuyên đề, các kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết các đại hội trên các lĩnh vực cơ bản: Giáo dục, đào tạo; nghiên cứu khoa học; quản lý học viên; hậu cần - tài chính; tổ chức, cán bộ. Xác định và thực hiện lộ trình, các bước đi phù hợp bảo đảm đáp ứng đúng, trúng yêu cầu của quá trình xây dựng, phát triển Nhà trường trước mắt cũng như lâu dài. Phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân, là nòng cốt trong sự nghiệp bảo đảm an ninh, trật tự.

Thực hiện tốt tầm nhìn, sứ mạng, văn hóa, triết lý giáo dục và các nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động nêu trên chính là cách để tập thể lãnh đạo, cán bộ, học viên Trường Đại học An ninh nhân dân góp phần nhỏ bé nhưng xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh./.

P.X.T

Ảnh: Tư liệu

-------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội;

3. Trần Văn Giàu (2010), Hồ Chí Minh - chân dung một tâm hồn và trí tuệ vĩ đại, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh;

4. Hồ Chí Minh (2010), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

5. Hồ Chí Minh (2010), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

6. Hồ Chí Minh (2010), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

7. Hồ Chí Minh (2010), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;

9. Hồ Chí Minh (1960), Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội;

10. Trần Dân Tiên (1984), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội;

11. Sơn Tùng (2006), Búp sen xanh, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

 

arrow_upward