Điều tra hình sự

Trao đổi một số vấn đề về thực tiễn áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp

          Quy định về biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” (sau đây gọi tắt là giữ khẩn cấp) trong Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 có sự kết thừa, phát triển từ quy định về biện pháp “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” của Bộ luật TTHS năm 2003. Sau khi Bộ luật TTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, thực tiễn áp dụng biện pháp giữ khẩn cấp và một số biện pháp ngăn chặn có liên quan (tạm giữ, bắt người bị giữ khẩn cấp) đã nảy sinh một số vướng mắc được đề cập như: sau khi giữ khẩn cấp thì địa điểm giữ người ở đâu; có thể tạm giữ ngay hay phải chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp mới được tạm giữ; cách tính thời hạn tạm giữ người bị giữ khẩn cấp như thế nào; có được dùng vũ lực hoặc tiến hành khám xét không cần có lệnh đối với người bị giữ khẩn cấp hay không, … [1]

          Từ thực tế đó, ngành Công an và các cơ quan chức năng cấp Trung ương đã ban hành một số văn bản hướng dẫn để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật về biện pháp ngăn chặn này. Theo đó, hướng dẫn về áp dụng biện pháp giữ khẩn cấp đã được quy định rõ tại mục I Văn bản số 2000/CSĐT (C44) ngày 12/6/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Bộ Công an về áp dụng một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 (gọi tắt là Văn bản số 2000/CSĐT); Điều 15 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT

-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của liên ngành Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng quy định về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS (gọi tắt là Thông tư liên tịch 04/2018).

1. Về địa điểm giữ người và việc tạm giữ người bị giữ khẩn cấp

          Theo khoản 4 Điều 110 và khoản 1 Điều 114 Bộ luật TTHS năm 2015, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ khẩn cấp thì Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay, ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc phải trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn. Trong trường hợp đã ra quyết định tạm giữ thì trong hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp phải có quyết định tạm giữ (điểm b khoản 5 Điều 110). Mặt khác, khoản 1 Điều 117 Bộ luật TTHS năm 2015 cũng quy định rõ người bị giữ khẩn cấp là một trong những đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ sau khi đã bị giữ khẩn cấp [2].

          Như vậy, căn cứ theo các điều khoản nêu trên, trừ trường hợp ra quyết định trả tự do, địa điểm giữ người bị giữ khẩn cấp là các cơ sở giam giữ (nhà tạm giữ, trại tạm giam) theo quyết định tạm giữ được ban hành trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ (khi bàn giao người bị giữ khẩn cấp cho cơ sở giam giữ phải kèm theo Quyết định tạm giữ đối với họ). Cơ quan điều tra hoàn toàn có đủ thẩm quyền theo luật định để ra quyết định tạm giữ người bị giữ khẩn cấp. Do vậy, tại điểm 2 mục I Văn bản số 2000/CSĐT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã nêu rõ hướng dẫn về vấn đề này: “Việc ra quyết định tạm giữ người bị giữ khẩn cấp thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 117 và được thực hiện trong thời hạn 12 giờ theo khoản 4 Điều 110 và khoản 1 Điều 114 mà không cần đợi đến khi Viện kiểm sát cùng cấp có phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp (khoản 5 Điều 110 quy định hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp có Quyết định tạm giữ). Nếu Cơ quan điều tra chờ khi Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp mới ra Quyết định tạm giữ là không đúng theo quy định tại Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” [3]

          Phù hợp với hướng dẫn nêu trên của ngành Công an, khoản 3 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018 cũng đã quy định rõ: “Việc ra quyết định tạm giữ người bị giữ khẩn cấp được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ (chưa cần có quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp của Viện kiểm sát). Quyết định tạm giữ người bị giữ khẩn cấp được ra trước hoặc cùng với lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp”[4].

2. Về việc ra lệnh, xét phê chuẩn và thủ tục thi hành lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp         

          Trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015, căn cứ để Cơ quan điều tra ra lệnh và cũng là cơ sở để Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018 như sau:

          “1. Khi đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ bắt người bị giữ khẩn cấp, cụ thể là:

                a. Nếu giữ khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh rõ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

                b. Nếu giữ khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có biên bản ghi lời khai của người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và các tài liệu hoặc căn cứ xác định người đó bỏ trốn nếu không bị giữ;

                c. Nếu giữ khẩn cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu xác định có dấu vết, tài liệu, đồ vật của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm đó; tài liệu, căn cứ xác định người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ” [4].

          Để đảm bảo tính chặt chẽ, khoản 6 điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rõ: “Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp” [2]. Hướng dẫn cụ thể vấn đề này, khoản 2 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018 đã quy định: “Trường hợp Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ khẩn cấp để xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp thì Kiểm sát viên thông báo cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra để phối hợp thực hiện. Biên bản ghi lời khai người bị giữ khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải được đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án” [4].

          Theo quy định tại khoản 6 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn, Cơ quan điều tra phải ra quyết định trà tự do ngay cho người bị giữ khẩn cấp.

          Trường hợp nhận được quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp của Viện kiểm sát, để đảm bảo thủ tục lập biên bản và người chứng kiến việc thi hành lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp, theo hướng dẫn nêu tại điểm 4 mục I Văn bản số 2000/CSĐT và khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018 thì “Điều tra viên phải tiến hành lập biên bản bắt người bị giữ khẩn cấp tại cơ sở giam giữ. Người chứng kiến việc lập biên bản bắt người bị giữ khẩn cấp là cán bộ của cơ sở giam giữ.” [3], [4]. Do người bị giữ khẩn cấp trước đó đã bị đưa vào cơ sở giam giữ theo quyết định tạm giữ, Cơ quan điều tra còn phải phối hợp với cơ sở giam giữ để thực hiện thủ tục ra lệnh trích xuất người bị tạm giữ trước khi triển khai trình tự, thủ tục thi hành lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp.

 3. Về cách tính thời hạn tạm giữ người bị giữ khẩn cấp

          Theo nội dung hướng dẫn nêu tại điểm 1 mục I Văn bản số 2000/CSĐT, cách tính thời hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:

          “1. Khi Cơ quan điều tra tiếp nhận người bị giữ, người bị bắt từ cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì thời hạn tạm giữ được tính kể từ khi tiếp nhận. Trường hợp Cơ quan điều tra trực tiếp giữ khẩn cấp và thực hiện áp giải người đó về trụ sở của mình thì thời hạn tạm giữ được tính kể từ khi áp giải người bị giữ khẩn cấp đó về trụ sở Cơ quan điều tra. Đối với người phạm tội tự thú, đầu thú thì thời hạn tạm giữ bắt đầu kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ” [3].  

          Ngoài ra, theo hướng dẫn nêu tại điểm 3 mục I Văn bản số 2000/CSĐT nêu trên thì thời hạn 12 giờ (kể khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ) theo khoản 4 Điều 110 và khoản 1 Điều 114 nằm trong thời hạn tạm giữ theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Bộ luật TTHS năm 2015. Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội (ở đây là người bị tạm giữ), cần lưu ý nếu Cơ quan điều tra trực tiếp giữ khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ khẩn cấp thì thời hạn tạm giữ ghi trong Quyết định tạm giữ phải theo đúng hướng dẫn tại điểm 1 mục I Văn bản số 2000/CSĐT nêu trên, không được tính bắt đầu kể từ khi ra Quyết định tạm giữ như đối với trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú.

4. Về việc sử dụng vũ lực đối với người bị giữ khẩn cấp

         Việc sử dụng vũ lực ở đây được hiểu là lực lượng thi hành lệnh giữ khẩn cấp có thể sử dụng võ thuật, vũ khí (súng, đạn…) hoặc công cụ hỗ trợ (dùi cui, roi điện, còng khóa số 8…) để khống chế, vô hiệu hóa, trói hoặc khóa chân, tay của người bị giữ khẩn cấp khi người đó không chấp hành lệnh, có hành vi biểu hiện chống đối như la hét, kích động gây rối an ninh trật tự (ANTT), chống trả bằng hung khí, vũ khí hoặc có hành vi khác đe dọa an toàn tính mạng, sức khỏe của lực lượng thi hành lệnh hoặc người khác.

         Theo quan điểm của người viết, dù vấn đề sử dụng vũ lực trong quá trình thi hành lệnh giữ khẩn cấp chưa được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn nêu trên, nhưng trên thực tế và theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, lực lượng thi hành lệnh giữ khẩn cấp – với tư cách là lực lượng thi hành công vụ - vẫn có đầy đủ thẩm quyền pháp lý để có thể sử dụng vũ lực khi cần thiết nhằm ngăn chặn, khống chế, vô hiệu hóa các hành vi chống đối của người bị giữ khẩn cấp.         

          Cụ thể, theo quy định tại Điều 18 và Điều 55 Luật Quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, Công an nhân dân là một trong các nhóm đối tượng được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ khi cần thiết trong quá trình thi hành công vụ nhằm đảm bảo ANTT, đấu tranh trấn áp tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của các cá nhân, đơn vị Công an có thẩm quyền phải tuân thủ các nguyên tắc, trường hợp cụ thể được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 22 (sử dụng vũ khí) và khoản 1 Điều 61 (sử dụng công cụ hỗ trợ) của Luật này. Trong trường hợp buộc phải nổ súng khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT, lực lượng thi hành lệnh phải tuân thủ quy định nêu tại Điều 23 Luật này. Theo đó, với trường hợp người bị giữ khẩn cấp đang chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác thì người thi hành nhiệm vụ phải cảnh báo bằng lời nói hoặc bắn chỉ thiên trước khi nổ súng, hoặc thậm chí có thể nổ súng vào đối tượng mà không cần cảnh báo trong các trường hợp nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 23 [5].   

          Mặt khác, trong mẫu văn bản số 18 “Lệnh giữ khẩn cấp” ban hành theo Thông tư 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2917 của Bộ Công an cũng đã ghi rõ nội dung Yêu cầu chính quyền địa phương và các đơn vị vũ trang hỗ trợ khi cần thiết để thi hành Lệnh này” [5]. Trên thực tế, khi thi hành lệnh giữ khẩn cấp, Cơ quan điều tra có thể đề xuất, huy động lực lượng vũ trang (thường là cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát hình sự hoặc Cán bộ điều tra, Điều tra viên được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ) trong trường hợp cần thiết để đảm bảo hiệu quả thi hành lệnh, sẵn sàng ứng phó nếu người bị giữ khẩn cấp có hành vi chống đối, chống trả lực lượng thi hành công vụ.

5. Về việc khám xét người bị giữ khẩn cấp

         Theo quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật TTHS năm 2015, Cơ quan điều tra “có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người” [6]. Do giữ khẩn cấp không phải là một trường hợp bắt như bắt khẩn cấp trước đây (theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003) nên khi thi hành lệnh giữ khẩn cấp, lực lượng thi hành không được khám xét người bị giữ, muốn khám người bị giữ phải có lệnh của người có thẩm quyền [1].

         Theo quan điểm cùa người viết, để phù hợp với quy định pháp luật là khi bắt người mới được quyền khám xét người mà không cần có lệnh, Cơ quan điều tra ra lệnh giữ khẩn cấp cũng cần đồng thời ra lệnh khám xét khẩn cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 193 Bộ luật TTHS năm 2015. Lệnh khám xét khẩn cấp này không chỉ là khám xét người mà còn có thể khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện của người bị giữ khẩn cấp tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể. Trên thực tế, việc khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm hoặc phương tiện còn có thể được Cơ quan điều tra tiến hành trước để có cơ sở phát hiện, thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho việc ra lệnh giữ khẩn cấp, nhất là với trường hợp giữ khẩn cấp quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015.

6. Việc áp giải người bị giữ khẩn cấp

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Bộ luật TTHS năm 2015, “áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cáp, người bị buộc tội” [3]. Do đó, trong trường hợp thi hành lệnh giữ khẩn cấp ở ngoài trụ sở Cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra có thẩm quyền cần có Quyết định áp giải (theo mẫu văn bản số 68 kèm theo Thông tư 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/20917 để đưa người bị giữ khẩn cấp về trụ sở Cơ quan điều tra hoặc cơ sở giam giữ nhằm phục vụ các hoạt động điều tra, xử lý tiếp theo đối với họ.

7. Về việc đề nghị phối hợp thi hành lệnh giữ khẩn cấp

          Theo quy định tại khoản 5 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018: “Trường hợp Cơ quan điều tra đang thụ lý hồ sơ vụ án đề nghị Cơ quan điều tra khác hoặc những ngưởi quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 110 Bộ luật TTHS phối hợp giữ khẩn cấp, thì ngay sau khi thực hiện việc giữ người, Cơ quan điều tra và những người được đề nghị phối hợp phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra đã đề nghị đến nhận người bị giữ và các tài liệu có liên quan; đồng thời phối hợp trong việc áp giải người bị giữ khẩn cấp về đến trụ sở Cơ quan điều tra. Tài liệu đề nghị phối hợp giữ khẩn cấp phải được đưa vào hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ khẩn cấp có thể fax hoặc gửi bản ảnh lệnh đó qua phương tiện điện tử cho cơ quan, người được đề nghị phối hợp thực hiện việc giữ người nhưng sau đó phải gửi bản chính để đưa vào hồ sơ vụ án.” [4]

          Theo quan điểm của người viết, quy định này là rất cần thiết, góp phần tạo thuận lợi cho việc kịp thời ngăn chặn, thi hành lệnh giữ khẩn cấp người có dấu hiệu phạm tội, nhất là trong trường hợp do khoảng cách địa lý và thời gian cấp bách nên Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ khẩn cấp không thể cử lực lượng kịp thời đến ngay địa điểm đối tượng đang có mặt để thi hành lệnh. Tuy nhiên, để việc phối hợp giữ khẩn cấp theo quy định nêu trên đảm bảo hiệu quả, trong phần phân công thi hành Lệnh giữ khẩn cấp (mẫu số 18 ban hành kèm theo Thông tư 61/2017/TT-BCA) cần ghi rõ tên cơ quan, đơn vị, người được đề nghị phối hợp thực hiện lệnh (kèm theo tài liệu, công văn đề nghị phối hợp thi hành lệnh giữ khẩn cấp của Cơ quan điều tra có thẩm quyền).

          Mặt khác, việc Cơ quan điều tra gửi bản ảnh Lệnh giữ khẩn cấp qua phương tiện điện tử cho cơ quan, người được đề nghị phối hợp cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn như: có thể gửi qua các loại phương tiện điện tử cụ thể nào, cách thức bảo mật khi gửi ra sao… để đảm bảo bí mật điều tra, tránh việc lạm dụng hoặc sơ hở, tùy tiện khi thực hiện có thể ảnh hưởng đến bí mật công tác điều tra, hiệu quả ngăn chặn và xử lý tội phạm./.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Nguyễn Tất Thắng (2018), Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015, Tạp chí Khoa học Giáo dục Cảnh sát nhân dân (số 110 – 11/2018), Đại học Cảnh sát nhân dân, Tp. Hồ Chí Minh, tr.12-tr17.

2.      Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.

3.      Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (2018), Văn bản số 2000/CSĐT (C44) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, Hà Nội.

4.      Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng (2018), Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS, Hà Nội.

5.      Quốc hội (2017), Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Hà Nội.

Bộ Công an (2017), Thông tư số 61/2017/TT-BCA  ngày 14/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự, Hà Nội. 


Tác giả: Thượng tá, TS. Nguyễn Anh Dũng - Phó Trưởng Khoa An ninh điều tra

arrow_upward