Điều tra hình sự

Một số vấn đề bất cập trong quy định của pháp luật ảnh hưởng đến điều tra, xử lý tội phạm về vũ khí quân dụng

     Trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm về “vũ khí quân dụng” ngoài việc phải tuân thủ quy định của pháp luật hình sự về tội được quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015),cơ quan điều tra còn phải nghiên cứu thêm văn bản pháp lý liên quan trực tiếp nhưluật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợnăm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2019 (gọi tắt là Luật số 14/2017/QH14) vàThông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 hướng dẫn áp dụng Điều 95 (nay là Điều 304 BLHSnăm 2015), Điều 96 BLHS năm 1985 (gọi tắt là Thông tư liên ngành số 01/TTLN).

     Tuy nhiên, qua nghiên cứu, đối chiếu các văn bản pháp lý nêu trên, cho thấy hiện tạiđã bộc lộ những điểm “lạc hậu”, mang tính “tùy nghi” làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác điều tra, xử lý loại tội phạm này, đòi hỏi cần phải nhanh chóng bổ sung, chỉnh sửa và hướng dẫn chi tiết trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về tình tiết khung tăng nặng hình phạt căn cứ vào số lượng

     Tội phạm về “vũ khí quân dụng”được quy định ngay trong BLHS đầu tiên của Việt Nam năm 1985 tại Điều 95 “Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”,trong đó khoản 2, Điều 95 quy định:

     2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

         a) Có tổ chức;

         b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

         c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

         d) Tái phạm nguy hiểm.[1]

     Như vậy, một trong những yếu tố được sử dụng làm căn cứ để định khung hình phạt là số lượng (điểm b), tuy nhiên trong điều luật không trực tiếp quy định “số lượng lớn” là bao nhiêu gây khó khăn chocơ quan điều tra trong điều tra, xử lý. Để khắc phục,như đã trình bày ngày 07/01/1995 liên ngành Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)đã ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN, hướng dẫn vật phạm pháp có số lượng tương ứng với từng khung hình phạt, được quy định cụ thể tại khoản 1,2,3, Điều 1, Mục III.[4]

     Sau BLHS năm 1985 tội phạm về “vũ khí quân dụng” tiếp tục được quy định trong BLHS năm 1999 tại Điều 230, nhưng chưa có hướng dẫn mới về việc áp dụng. Xét thấy Điều 230 BLHS năm 1999 là điều luật đã được quy định tại Điều 95 BLHS năm 1985 và tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN đã hướng dẫn áp dụng Điều 95, Điều 96 BLHS năm 1985 nên trong khi chờ hướng dẫn mới cơ quan điều tra đã vận dụng Thông tư này, mặc dù đã xuất hiện nhiều điểm lạc hậu. Cụ thể, Thông tư liên ngành số 01/TTLN chỉ quy định số lượng vật phạm pháp tương ứng với ba khung hình phạt gắn với Điều 95 BLHS 1985, trong khi Điều 230 BLHS năm 1999 quy định bốn khung hình phạt tương ứng với “số lượng lớn”,“số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”[1].Đến nay khi BLHS năm 2015 đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, vẫn tiếp tục áp dụng quy định Thông tư liên ngành số 01/TTLN hướng dẫn cho Điều 304.

     Đây là vấn đề mà nếu không đượcđiều chỉnhkịp thời sẽ rất khó đểcác Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất, chính xác, thế nên thời gian tới cần nhanh chóng ban hành thông tư hướng dẫn mới thay thế Thông tư liên ngành số 01/TTLN, trong đó phảithể hiện cụ thể thế nào là“vật phạm pháp có số lượng lớn”,“vật phạm pháp có số lượng rất lớn”, “vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn” để làm căn cứ định khung hình phạt. Ngoài ra, quá trình ban hành thông tư hướng dẫn cần chú ý đến “tiêu chí” phân chia số lượng vì đơn cử như theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 2, Điều 1, Mục III, Thông tư liên ngành 01/TTLN vật phạm pháp có số lượng lớn đối với Súng bộ binh bắn phát một”“từ 6 khẩu đến 25 khẩu”.[3]Tuy nhiên, thực tế cùng một loại súng bộ binh bắn phát một nhưng chi phí sản xuất, tính năng, tác dụng, tầm sát thương của mỗi kiểu súng cụ thể cũng có sự khác nhau. Chẳng hạn cùng là súng trường bắn phát một nhưng súng trường QBU-88 có chi phí sản xuất cao hơn rất nhiều so với súng trường CKC và súng trường QBU-88 có tầm bắn tối đa đến 2000m, có thể tiêu diệt được cả mục tiêu máy bay lên thẳng, xe cơ giới bọc thép.

Thứ hai, về vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng

    Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật số 14/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Tại khoản 2, Điều 3 của luật này đã tách quy định về vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng (VKQD) ra khỏi khái niệm VKQD [2]. Như vậy, theo Luật số 14/2017/QH14 và BLHS năm 2015 đang có một khoảng trống trong việc xử lý hình sự đối với hành vi chế tạo, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép, chiếm đoạt vũ khí có tính năng tác dụng tương tự VKQD nên không thể khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các hành vi trên từ ngày 01/7/2018.Mặc dù, từ thực tiễn cho thấy, đây là loại tội phạm nguy hiểmvà không loại trừ các đối tượng sẽ lợi dụng kẽ hở này để chế tạo, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chiếm đoạt vũ khí có tính năng tác dụng tương tự VKQD, để hoạt động lật đổ chính quyền, khủng bố, gây bạo loạn vũ trang, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của đất nước.Thấy được những điểm bất cập nêu trên, ngày 25/11/2019, Quốc hội biểu quyết, tán thành thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Cụ thể đã sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 3 Luật số 14/2017/QH14 theo hướng bổ sung vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vào VKQD. [3]

     Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn vấn đề đặt ra là Thông tư liên ngành số 01/TTLN cũng chỉ mới dừng lại ở mức đề cập đến một số đối tượng VKQD phổ biến còn các đối tượng khác, đặc biệt là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự VKQD thì chưa có quy định,điều này cũng gây khó khăn cho cơ quan điều tra trong điều tra, xử lý. Do đó,khi xây dựng Thông tư mới thay thế Thông tư liên ngành số 01/TTLNđể hướng dẫn Điều 304 BLHS năm 2015 như đã đề xuất, cơ quan chức năngcần chú ý bổ sung vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự VKQD để đảm bảo thống nhất, hiệu quả trong thực tiễn áp dụng.

     Trên đây là ý kiến vềmột số vấn đề bất cập trong quy định của pháp luật ảnh hưởng đến điều tra, xử lý tội phạm về “vũ khí quân dụng”, tác giả xin nêu ra để cùng trao đổi./.

Nguyễn Thanh Hà

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1985, 1999, 2015), Bộ luật hình sự năm 1985, 1999, 2015, Hà Nội.

[2]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2017), Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Hà Nội.

[3]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2019), Luật sửa đổi, bổ sung Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Hà Nội.

[4]. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) (1995), Thông tư liên ngành số 01/TTLN hướng dẫn áp dụng Điều 95, Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1985, Hà Nội.

arrow_upward