Điều tra hình sự

Một số điểm mới về chức danh Điều tra viên trong Công an nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015

     Ngày 20/8/2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2006, 2009. Tuy nhiên qua thực tiễn triển khai, tổ chức thực hiện, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã cho thấy nhiều vấn đề vướng mắc, hạn chế, bất cập cần thiết phải thay đổi, điều chỉnh nhằm tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra hình sự trong tình hình mới.

     Trước những yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời để phù hợp với Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2018, thay thế cho Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2006, 2009). Trong đó, Luật đã xây dựng chế định Điều tra viên trong Công an nhân dân với nhiều quy định mới, hoàn chỉnh và cụ thể hơn so với Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004. Cụ thể:

     Thứ nhất, về các ngạch Điều tra viên:

         - Điều 30 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định Điều tra viên có ba “bậc” là Điều tra viên Sơ cấp, Điều tra viên Trung cấp và Điều tra viên Cao cấp.

         - Điều 45 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã thay “các bậc điều tra viên” thành “các ngạch điều tra viên”, bao gồm: Điều tra viên Sơ cấp; Điều tra viên Trung cấp; Điều tra viên Cao cấp.

      Tác giả cho rằng sự thay đổi này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định về các ngạch Thẩm phán, Kiểm sát viên trong quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Tạo nên sự thống nhất trong tên gọi các chức danh tư pháp, cũng như thu gọn đầu mối hoạt động của các cơ quan tư pháp hiện nay.

      Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên:

         - Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên.

         - Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Điều 53) đã có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên. Theo đó trong quá trình thực hiện công tác, Điều tra viên phải tuân thủ theo quy định của pháp luật đồng thời cũng phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

     Việc bổ sung cụ thể các quy định này đã góp phần hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động điều tra của Điều tra viên, đồng thời cũng giúp hạn chế được tình huống do mơ hồ, không rõ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên mà để xảy ra những hậu quả xấu về pháp luật, chính trị, nghiệp vụ.

     Thứ ba, về chế độ thi tuyển, tuyển chọn Điều tra viên:

         - Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (từ Điều 29 đến Điều 32, Điều 34) quy định chế độ xét, tuyển chọn Điều tra viên. Theo đó, thành lập hội đồng tuyển chọn Điều tra viên các bậc trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

          - Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (từ Điều 45 đến Điều 49, Điều 55, Điều 56) đã thay “Hội đồng tuyển chọn...”  theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thành “Hội đồng thi tuyển” Điều tra viên Cao cấp, Điều tra viên Trung cấp, Điều tra viên Sơ cấp.

   Theo tác giả, thay đổi từ “xét tuyển” thành “thi tuyển” Điều tra viên là một sự đổi mới đúng đắn, chính xác. Sự thay đổi này góp phần giúp Bộ Công an đánh giá đúng năng lực của cán bộ từ đó bổ nhiệm đúng người, đúng việc; đồng thời tránh các luồng tư tưởng “đến hẹn lại lên” của một số cán bộ, tạo động lực cho đội ngũ Điều tra viên học tập, không ngừng phấn đấu, hoàn thiện bản thân, nâng cao trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác điều tra, đấu tranh, phòng chống tội phạm.

   Thứ tư, về nhiệm kỳ Điều tra viên, hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên:

        - Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (Điều 30) quy định nhiệm kỳ của Điều tra viên là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm; không quy định cụ thể về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên.

        - Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Điều 51, 58) đã bổ sung như sau:

               (1) Để bảo đảm sự tương ứng với quy định của pháp luật về nhiệm kỳ của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã đổi mới theo hướng quy định Điều tra viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm.

               (2) Bổ sung quy định về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên theo hướng kéo dài cho những người có đủ phẩm chất, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với Bộ luật Lao động, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2014.

    Việc quy định như thế giúp tránh tình trạng không nhiệt tình phấn đấu, học tập nâng cao trình độ của Điều tra viên; tránh một số trường hợp khi Điều tra viên đã được bổ nhiệm rồi ỷ lại, dậm chân tại chỗ, không phấn đấu học tập để tăng ngạch cao hơn.

     Qua một số thay đổi trong chế định về Điều tra viên như trên, tác giả nghĩ rằng những quy định mới trên đem lại những tác động tích cực, như: Thúc đẩy tinh thần cầu tiến, tạo động lực cho đội ngũ Điều tra viên học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, pháp luật, nghiệp vụ; tạo tính công bằng trong việc bổ nhiệm Điều tra viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra, đấu tranh, phòng chống tội phạm.

     Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực công tác cũng như phẩm chất nghề nghiệp của Điều tra viên như sau:

     Một là, về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý, sử dụng Điều tra viên: Hiệu quả của hoạt động điều tra hình sự phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng công tác quản lý, sử dụng Điều tra viên. Theo đó, cần giáo dục, nâng cao nhận thức cho Điều tra viên về ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp và vai trò của mình trong hoạt động thực tiễn; đào tạo lại đối với Điều tra viên trong quá trình quản lý, sử dụng là những yếu tố giúp cho Điều tra viên có những sáng tạo nghề nghiệp trong khuôn khổ pháp luật cũng như duy trì tốt nhất khả năng hoạt động thực tiễn. Thường xuyên tổ chức những buổi tọa đàm, hội thảo rút kinh nghiệm để Điều tra viên các địa phương có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, phát hiện được những bất cập, khó khăn xảy ra trong quá trình công tác điều tra để có những khuyến nghị phù hợp với cơ quan chức năng nhằm thay đổi, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp nhất với tình hình thực tế.

     Hai là, bảo đảm chế độ, chính sách cho Điều tra viên: Điều tra viên là người phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, trở ngại cũng như các tác động tiêu cực khác trong quá trình điều tra vụ án một cách trực tiếp. Một số nguy hiểm, khó khăn mà Điều tra viên thường phải đối mặt như: áp lực về công việc do thời hạn điều tra, áp lực từ dư luận xã hội, áp lực từ thời điểm chính trị nhạy cảm; thậm chí Điều tra viên có thể đối mặt với những tình huống nguy hiểm đến tính mạng như sự chống đối, tấn công của các đối tượng phạm tội khi bị bắt, dẫn giải,… Những khó khăn, thách thức trên có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến Điều tra viên cả về thể chất lẫn tinh thần. Mặc dù phải chịu áp lực lớn từ các yêu cầu pháp luật, chính trị, nghiệp vụ nhưng mức phụ cấp của Điều tra viên trong Công an nhân dân hiện nay vẫn còn thấp hơn so với Trinh sát viên, do đó cần có thêm chế độ, chính sách phù hợp động viên, khích lệ các cán bộ là Điều tra viên nhằm nâng cao tinh thần, tạo động lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    Ba là, về hình thức thi tuyển Điều tra viên: Công tác điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải nắm vững kiến thức rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau từ lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ đến kiến thức xã hội, đồng thời phải có kỹ năng giao tiếp, nói năng lưu loát. Do đó, trong thời gian tới khi tổ chức thi tuyển nên áp dụng hình thức thi viết kết hợp với vấn đáp, nhằm đánh giá được toàn diện, chính xác hơn kiến thức, khả năng tư duy, nắm bắt vấn đề cũng như khả năng nói, giao tiếp của người dự thi, đảm bảo cán bộ được bổ nhiệm Điều tra viên có đầy đủ năng lực, kiến thức để thực hiện nhiệm vụ.

     Trên đây là một số điểm mới về chức danh Điều tra viên trong Công an nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015, xin trao đổi cùng các đồng chí./.

Võ Hoàng Lộc

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự, Hà Nội.

[2]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Hà Nội.        

arrow_upward