Đào tạo đại học

Hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước và những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác giáo dục đại học

Ngày 03/10/2020, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức Lễ Khai khóa năm 2020 với chủ đề: “Tiên phong - Dẫn dắt - Nâng tầm quốc tế”. Đến dự Lễ Khai khóa năm nay có đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, đại diện các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chủ tịch UBND một số tỉnh, thành phía Nam. Về phía các học viện, trường của lực lượng CAND, có đồng chí Thiếu tướng, PGS, TS Phan Xuân Tuy, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân. 

Đặc biệt, Lễ khai khóa năm nay của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vinh dự được đón tiếp đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao


Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phát biểu tại buổi lễ.  Ảnh: www.qdnd.vn



Đồng chí Thiếu tướng, PGS, TS Phan Xuân Tuy, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân dự Lễ Khai khóa Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Với tư cách là diễn giả, khách mời tại buổi Lễ, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có bài thuyết trình với chủ đề “Hội nhập quốc tế (HNQT) sâu rộng của đất nước và những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác giáo dục đại học”.

Bắt đầu bài thuyết trình, Phó Thủ tướng đã điểm lại quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, sự đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng đối với quá trình HNQT của đất nước trong hơn 30 năm qua: 

“Ngày hôm nay, có lẽ chúng ta nói về HNQT như là một điều hiển nhiên, tuy nhiên phải nói là hơn 30 năm trước đây, HNQT là vấn đề hoàn toàn mới đối với đất nước, đối với cả người dân đến cán bộ chúng ta và trong suốt một thời gian, có nhiều câu hỏi mà không ít người dân đã dặt cho chúng tôi: Vì sao ta cần hội nhập? Chặng đường hội nhập của nước ta diễn ra như thế nào? Khác gì với các nước khác? Đâu là những lợi ích thiết thực cho người dân?... Điều đầu tiên phải khẳng định là, Đối với nước ta, HNQT là một quyết sách chiến lược gắn với nhu cầu phát triển nội tại của đất nước và xuất phát từ những xu thế chuyển biến của môi trường quốc tế. Đó là một quá trình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới nhận thức về thế giới, về tư duy đối ngoại trên nền tảng vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, cũng như giá trị truyền thống, bản sắc của dân tộc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. 

Có thể nói là, mỗi đại hội Đảng từ năm 1996 cho đến nay, đã thực sự là một dấu mốc quan trọng cho quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện tư duy, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong đó có chủ trương về HNQT. Trong những năm 80 của thế kỉ trước, đất nước ta đang đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lại bị các nước phương Tây bao vây chính trị, cấm vận về kinh tế thì Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã quyết định công cuộc đổi mới đất nước. Về đối ngoại là chủ trương hợp tác kinh tế, khoa học, kĩ thuật, là giai đoạn mở đầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 1986 đến 2010, đường lối đó tiếp tục được phát triển bởi chủ trương của Đại hội Đảng là thứ VII năm 1991, đó là mở rộng, đa dạng và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, và chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Sau khi chúng ta gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và trước xu thế mới của liên kết quốc tế cũng như các chuyển biến sâu sắc do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, 2009, Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã quyết định tiến hành đổi mới toàn diện trong nước với chủ trương “Chủ động, tích cực HNQT”. Đây là quyết sách chiến lược, đánh dấu bước chuyển của nước ta sang một giai đoạn mới, đó là HNQT toàn diện.Từ năm 2011 đến nay, và Đại hội Đảng lần thứ XII năm 2016 tiếp tục đặt ra yêu cầu cao hơn. Đó là nâng HNQT lên mức toàn diện hơn và sâu rộng hơn với phương châm “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược, chủ động và tích cực HNQT, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại đa phương, chủ động tham gia tích cực, đóng góp vào xây dựng định hình hợp tác quốc tế” . Có lẽ trải dài cả hơn hơn 30 năm qua, sự chuyển đổi nhận thức từ HNQT những năm đầu mới chỉ đặt ra là hội nhập kinh tế cho đến hội nhập kinh tế và các lĩnh vực khác dần bước đến hội nhập quốc tế và đến nay là chúng ta chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Điều đó đã nói lên là chúng ta có 30 năm về chuyển biến sự nhận thức toàn Đảng, toàn Dân và cho đến tiến trình hội nhập của chúng ta ngày hôm nay là hội nhập quốc tế một cách toàn diện”. 

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã khái quát lại những lợi ích thiết thực mà HNQT mang lại cho đất nước, địa phương, doanh nhiệp và người dân, cụ thể như:

“Thứ nhất, HNQT đã góp phần quan trọng tạo dựng nên môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước, mở rộng và tăng cường quan hệ với các quốc gia, với các nước lớn và trung tâm hàng đầu thế giới. Từ một nước bị  bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối ngoại rộng mở với 189/193 các quốc gia là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ta đã xây dựng được mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thành viên của G20, toàn bộ các nước ASEAN. Các khuôn khổ này tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa và xã hội.

Thứ hai, HNQT đã trở thành một động lực quan trọng góp phần thức đẩy phát triển toàn diện trong nước, phát triển kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước ta trong thời gian qua. Tính trung bình trong 35 năm đổi mới và HNQT, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nhỏ bé, hiện nay GDP của nước ta đã đạt 262 tỷ USD, tăng hơn 18 lần, đứng thứ 44 trên thế giới, khoảng cách thu nhập giữa Việt Nam và các nước trên thế giới đang thu hẹp đáng kể. Trong năm nay, kinh tế thế giới đang gặp khó khăn và dưới đà suy thoái do tác động của đại dịch Covid-19. Kinh tế nước ta mặc dù gặp nhiều thách thức nhưng vẫn duy trì ở mức tăng trưởng dương. Đây là mức mà nhiều nước hiện nay không đạt được. Đa phần các nước kể cả các nước phát triển nhất đều bị mức tăng trưởng âm thì chúng ta, trong 8 tháng vừa qua đạt mức tăng trưởng 2,6%. Đặc biệt hơn, trong khó khăn như vậy, cán cân thương mại trong 9 tháng đầu năm là xuất siêu 17 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kì năm ngoái. Đây là tỉ lệ rất cao trong bối cảnh tình hình mà các nước về thương mại đều khó khăn, thậm chí đình trệ. Đó cũng chính là thành quả của quá trình hội nhập. Theo dự báo cách đây 2 ngày (30/9/2020) của Fitch Solutions về tăng trưởng GDP của nước ta năm nay có thể đạt trên 2,6% và 3,2% trong năm 2021, Việt Nam tiếp tục được đánh giá là một trong số ít mô hình thực hiện thành công mục tiêu kép “vừa kiểm soát dịch bệnh, vừa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm đời sống người dân”. 

Đến nay, chúng ta đã có quan hệ kinh tế thường mại với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ, ký gần 100 hiệp định thương mại trên 60 hiệp định ký kết và bảo hộ đầu tư. Trong đó, chỉ riêng mạng lưới 30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện đã giúp bảo đảm 8/10 thị trường xuất khẩu, 9/10 thị trường nhập khẩu chính, chiếm khoảng 75% giá trị nhập khẩu, tổng lượng khách du lịch, tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Từ một nền kinh tế khép kín bao cấp, đến nay Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới kinh tế rộng lớn, quy mô toàn cầu với 16 Hiệp định thương mại tự do, trong đó có các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như CPTPP, EVFTA với 65 đối tác là các trung tâm, các nền kinh tế hàng đầu thế giới, chiếm 59% dân số và 61% GDP, 68% thương mại toàn cầu. Qua đó cho thấy, Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và mạng lưới đổi mới, sáng tạo khu vực, toàn cầu, tạo ra những động lực mới cho phát triển đất nước.

Thứ ba, HNQT đã góp phần hết sức quan trọng vào việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước còn chưa nguy. Chúng ta đã hoàn thành phân định cắm mốc biên giới với 3 nước láng giềng (Lào, Trung Quốc, Campuchia). Thông qua nhiều cơ chế song phương và đa phương, nước ta vừa đẩy mạnh trao đổi đàm phán, xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột, quản lý tranh chấp, đồng thời thúc đẩy, hình thành các quy tắc ứng xử tại Biển Đông để hợp tác giải quyết các vấn đề trên biển và vấn đề dài hạn, thiết yếu nhằm duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Chúng ta vừa tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của công luận, kiên quyết, kiên trì đấu tranh trước các hành vi xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển của Việt Nam.

Thứ tư, các hoạt động hội nhập toàn diện, sâu rộng nhất là đối ngoại đa phương đã góp phần không ngừng nâng cao vai trò của đất nước trên trường quốc tế. Năng lực khởi xướng, nòng cốt, dẫn dắt và hòa giải của nước ta ngày càng được khẳng định và nâng tầm rõ rệt với việc tiếp tục tích cực đảm nhận nhiều trọng trách khu vực và quốc tế, và gần đây là việc đăng cai tổ chức thành công năm APEC 2017, diễn đàn WEF ASEAN năm 2018, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều năm 2019, và năm nay lần đầu tiên trong lịch sử đối ngoại của nước ta, chúng ta đảm nhận vai trò kép tại 2 cơ chế khu vực và toàn cầu có tầm quan trọng hàng đầu là chủ tịch ASEAN và thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc với nhiều sáng kiến và dấu ấn của Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Nước ta ngày càng chủ động tham gia, có nhiều sáng kiến, đóng góp thiết thực vào những nỗ lực chung của khu vực và toàn cầu, nhất là củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy tự do thương mại và đầu tư, hoàn tất các cam kết then chốt về tầm nhìn ASEAN 2025, chương trình nghị sự 2030 của Liên Hiệp Quốc về phát triển bền vững, thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và nhiều cam kết quốc tế khác.

Thứ năm, cùng quá trình HNQT theo phương châm “Lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm”, địa phương, doanh nghiệp và người dân ngày càng có điều kiện tham gia, tận dụng các cơ hội mà HNQT mang lại. Các hoạt động hội nhập mang lại những thuận lợi chưa từng có để mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào, công nghệ, trình độ khoa học quản lý, các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, chất lượng hơn, giá cạnh tranh hơn để từ đó tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả phát triển kinh tế, kinh doanh. Người dân, nhất là thế hệ trẻ có nhiều sự lựa chọn phong phú để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, việc làm, giáo dục, y tế, du lịch, giải trí với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh”. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất  nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Có thể nói, những thành tựu hết sức quan trọng, có ý nghĩa trên đây khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ trương chủ động tích cực HNQT toàn diện và sâu rộng. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng lưu ý: “Chúng ta phải nhìn vào phía trước, 10 - 20 năm tới có ý nghĩa hét sức then chốt đối với phát triển vị thế và HNQT đối với đất nước ta. Tiến trình hội nhập sẽ ngày càng toàn diện và sâu rộng hơn. Bước vào thập kỉ thứ 3 của thế kỉ 21, chúng ta đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 phát triển mạnh mẽ, đang mở ra một thời kì phát triển hoàn toàn mới cho nhân loại, đó là kỷ nguyên số với những chuyển biến sâu rộng chưa từng có diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống và mọi khu vực trên toàn thế giới. Việt Nam chúng ta bước vào thời kỳ chiến lược mới, đổi mới toàn diện, chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và hội nhập quốc tế sâu rộng. Do đó, có nhiều yêu cầu mới đang đặt ra:

Một là, thực hiện tầm nhìn và khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển theo định hướng XHCN vào giữa thế kỉ 21. Có thể khẳng định trên nền tảng đã tạo lập, đất nước ta đang đứng trước một cơ hội lịch sử chưa từng có để phát triển và vươn lên. Để hiện thực hóa khát vọng và tầm nhìn đó, trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII hiện nay đã đưa ra mục tiêu để lấy ý kiến toàn Đảng, toàn dân. Đó là đến năm 2025, nước ta trở thành một nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập vượt mức trung bình hoặc cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại có thu nhập trung bình cao. Đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi sự tích cực hội nhập toàn diện , sâu rộng, hiệu quả vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Hai là, những yêu cầu cao hơn về công tác HNQT trong thời kì mới. Thời gian tới, trọng tâm công tác hội nhập quốc tế là phát huy sức mạnh mềm, vị thế mới về địa chiến lược, địa kinh tế của đất nước ta, vươn lên đóng vai trò khởi xướng, nòng cốt, hòa giải trong các vấn đề có ý nghĩa chiến lược với Việt Nam. Tham gia định hình những cấu trúc mới, luật chơi mới ở khu vực và trên thế giới. Đây là giai đoạn nước ta phải hoàn tất nhiều cam kết quốc tế thăn chốt chứ không chỉ tham gia đàm phán ký kết như trước đây. Điều đó hoàn toàn đúng đắn, đòi hỏi chúng ta phải hết sức nỗ lực ở mức cao độ.

Ba là, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, quá trình số hóa, chuyển đổi số sâu rộng, mở ra thời kì phát triển mới với những thời cơ to lớn và cả những thách thức không nhỏ đối với tất cả các quốc gia trong đó có cả nước ta. Thế giới đang chuyển mạnh trong thời đại của tri thức công nghệ, đặt biệt là công nghệ số, công nghệ mới với vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo động lực và phương thức phát triển mới. Quá trình số hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu với kinh tế số, nền sản xuất thông minh, xã hội số, các hình thái mới về tiêu dùng, lối sống, xu thế cải cách đổi mới, tư duy quản trị quốc gia, doanh nghiệp, xu hướng chính sách gắn phát triển bền vững và công nghệ số. Diễn đàn kinh tế thế giới WEF dự báo đến năm 2022, kinh tế số sẽ chiếm đến 60% GDP của thế giới, các tiến bộ khoa học, sự phát triển của ứng dụng khoa học công nghệ mới trong cách mạng công nghiệp 4.0 diễn biến rất nhanh, đột phá, tác động sâu rộng và đa chiều trên phạm vi toàn cầu, đang làm thay đổi bản chất và hình thái của tư bản, đầu tư và lao động ban đầu, tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nước đi sau. Cùng với đó là cuộc cách mạng đã mang lại sự nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đang diễn ra trên mọi cấp độ: doanh nghiệp, quốc gia, khu vực. Tư duy sức mạnh tổng hợp quốc gia là sức mạnh thông minh bao gồm sức mạnh tĩnh và sức mạnh mềm trong đó có năng lực cạnh tranh quốc gia về công nghệ số, công nghệ mới, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng và thay đổi, ứng phó với biến đổi, rủi ro. Sức mạnh mềm ngày càng trở nên quan trọng hơn nhiều. Nhiều dự báo cho rằng, 5 - 10 năm tới là giai đoạn rất quan trọng của quá trình chuyển đổi số và chỉ trong 2 năm tới, với sự phổ cập nhanh chóng của công nghệ 5G sẽ tạo nên đột phát rất sâu rộng về quy mô và tốc độ của thông tin, xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển của quốc gia. Tương quan sức mạnh, quan hệ quốc gia Việt Nam chúng ta có lợi thế là nước đi sau khi đi thẳng vào những lĩnh vực mới của nền kinh tế số”.

Đối với giáo dục đại học ở nước ta, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh cho rằng: “Trong những năm qua, hội nhập về giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng giúp phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, nhất là nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thực tế, so với các nước trong khu vực, mức độ công nhận của quốc tế về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo, bằng cấp, các sản phẩm khoa học công nghệ còn khiêm tốn”. 

Theo Phó thủ tướng, thời kỳ chiến lược mới và hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với giáo dục đại học, đó là:

- “Nhu cầu tất yếu phải gắn nỗ lực đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nói chung và công tác giáo dục đại học nói riêng với xu thế cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và tổng thể yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước, đặc biệt là chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng, nâng tầm nguồn nhân lực trẻ Việt Nam và hình thành giai tầng sáng tạo của đất nước trong kỹ nguyên số.

- Đòn bẩy để tạo chuyển biến căn bản là chú trọng phát triển toàn diện thế hệ trẻ trên cả 3 phương diện: kiến thức - kỹ năng - phẩm chất, hình thành và phát triển xã hội học tập mở, học tập suốt đời. Nhiều nghiên cứu dự báo khoảng 60-80% ngành nghề trên thế giới hiện nay sẽ thay đổi trong 10 năm tới, với nhiều việc làm mới giá trị cao hơn được tạo ra, đòi hỏi kỹ năng, tri thức gắn với quá trình số hóa, tự động hóa và liên kết sâu rộng. Do đó, chúng ta cần chủ động mở rộng, từng bước bổ sung tri thức, kỹ năng mới, thiết yếu trong thế kỷ 21 vào các chương trình đào tạo và đào tạo lại hiện nay.

- Cần tiếp tục tranh thủ và thúc đẩy hợp tác quốc tế, liên kết giáo dục đại học với các nước ASEAN, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới trên nền tảng công nghệ số; chủ động tiếp thu và nâng cao nội lực phù hợp với tiêu chí, chuẩn mực chung...

- Cần có cách tiếp cận mới về phát triển nguồn nhân lực trẻ một cách dài hạn, đa chiều, đa ngành, nhằm thu hút các đối tác tham gia công tác giáo dục đại học. Kinh nghiệm của một số nước là đẩy mạnh phối hợp ‘bộ tứ’ giữa các cơ quan nhà nước với trung tâm đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn trong hình thành và triển khai chính sách, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu của thị trường, xã hội và yêu cầu của phát triển”.

Trong bài phát biểu, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thanh niên (trong đó có sinh viên) trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, Ông nói: “Kỷ nguyên số là kỷ nguyên của tuổi trẻ. Thời đại ngày nay là thời kỳ phát triển mới của đất nước đòi hỏi thanh niên, đặc biệt là sinh viên đại học không chỉ là “chủ nhân tương lai” mà phải là “người định hình tương lai của đất nước”. Quá trình hội nhập của đất nước đang mở ra cánh cửa phát triển cho các em, thế hệ trẻ đang có nhiều vận hội, lựa chọn, thuận lợi chưa từng có. Điều đó phải thể hiện trước hết ở việc tuổi trẻ trở thành động lực, nhân tố then chốt trong phát triển đất nước, là người tiên phong của đổi mới tư duy, thúc đẩy cách tiếp cận mới trong mọi lĩnh vực, hình thành văn hóa hội nhập của đất nước. Thế hệ trẻ cần khẳng định vai trò là chủ thể, đại diện của đất nước tại các diễn đàn trong khu vực, thế giới. Chính thế hệ trẻ phải là người tiên phong tham gia thực hiện các cam kết, trọng trách quốc tế của đất nước thời gian tới”.

Đối với sinh viên, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh bày tỏ mong muốn: “Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng thời gian tới không thể thiếu vai trò nòng cốt và sự dấn thân của sinh viên để nâng tầm vị thế, hình ảnh của Việt Nam đổi mới, phát triển và năng động. Các em cần tích lũy, trang bị cho bản thân kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với thực tiễn cách mạng công nghiệp lần tứ 4. Ngoại ngữ thông thạo, càng nhiều ngoại ngữ càng tốt, là chìa khóa quan trọng để mở cánh cửa vào thế giới tri thức của nhân loại và làm việc trong môi trường quốc tế, đa văn hóa. Tôi mong các em phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành thế hệ công dân Việt Nam đầy đủ tri thức, hoài bão và trách nhiệm với quốc gia, dân tộc, là công dân thế hệ Z - công dân đám mây, đa năng, các em sinh viên cần trở thành “người lãnh đạo, người chủ” về công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước”.

Những định hướng chỉ đạo của đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao qua bài thuyết trình nêu trên đã gợi mở ra cho lực lượng CAND chúng ta những vấn đề rất đáng suy nghĩ, trăn trở, mà trước hết là làm sao để giáo dục đào tạo của các trường CAND đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh bảo vệ ANQG, bảo đảm TTATXH trong thời đại đất nước đang hội nhập sâu rộng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay ? Là những thanh niên, sinh viên thế hệ Z của lực lượng CAND, chúng ta cần làm gì để không chỉ làm chủ đất nước mà còn góp phần “định hình tương lai của đất nước”?

Tin, ảnh: Hoàng Văn Bình - PTP Hành chính tổng hợp
arrow_upward