Chuyên mục pháp luật

Tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện của người được đề nghị đặc xá

TP. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 9 năm 2021

Thượng tá, TS. Nguyễn Thị Thu Hương

Trưởng Khoa Luật Trường Đại học ANND

Đặc xá là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, vừa nghiêm minh trong xét xử người phạm tội, đồng thời khoan hồng, nhân đạo đối với những phạm nhân có quá trình cải tạo, lao động, học tập tốt, rèn luyện tiến bộ để trở về với cộng đồng, hướng thiện, thành người có ích cho xã hội. Đặc biệt, sự kiện Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định đặc xá cho hơn 3.000 phạm nhân nhân dịp Quốc khánh 2/9/2021 trong bối cảnh tình hình trong nước cũng như trên thế giới đang rất nhiều biến động khó lường với những khó khăn, phức tạp đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, góp phần quan trọng trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Để tìm hiểu rõ quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện của người được đề nghị đặc xá, Trang Thông tin điện tử trân trọng giới thiệu bài viết của Thượng tá, TS Nguyễn Thị Thu Hương, Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học An ninh nhân dân cùng bạn đọc.

 

1. Đặc xá là một trong những chế định thể hiện chính sách hình sự khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Bộ Luật hình sự 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật đặc xá năm 2018 và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

Từ năm 2009 đến 2016, theo Luật Đặc xá năm 2007, Nhà nước ta đã thực hiện 07 đợt đặc xá nhân các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nước, đặc xá cho hơn 87.000 người. Ngày 30/8/2021, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 1535 đặc xá cho 3.026 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù, 3 người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, 6 người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, có đủ điều kiện được hưởng đặc xá năm 2021. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 1/9/2021. Như vậy tổng số có 3035 người được đặc xá tha tù trước thời hạn nhân dịp Quốc khánh  nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 2/9/2021. Trong đợt đặc xá lần này có 21 phạm nhân nước ngoài với 7 quốc tịch khác nhau (10 phạm nhân quốc tịch Trung Quốc; 3 phạm nhân quốc tịch Nigieria; 2 phạm nhân quốc tịch Campuchia; ngoài ra có các phạm nhân quốc tịch Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc; trong đó có 2 phạm nhân được đặc xá trong trường  hợp đặc biệt). Cũng trong đợt đặc xá lần này có 499 người thuộc các dân tộc thiểu số của Việt Nam; 314 phạm nhân là người có tôn giáo[1].

Có thể thấy Đặc xá là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, vừa nghiêm minh trong xét xử người phạm tội, đồng thời khoan hồng, nhân đạo đối với những phạm nhân có quá trình cải tạo, lao động, học tập tốt, rèn luyện tiến bộ để trở về với cộng đồng, hướng thiện, thành người có ích cho xã hội. Đợt đặc xá năm nay là lần đầu tiên triển khai từ khi Luật đặc xá năm 2018 có hiệu lực với nhiều quy định mới chặt chẽ hơn về các tiêu chuẩn được đặc xá. Bài viết làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện của người được đề nghị đặc xá.

Đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng họp báo công bố Quyết định số 4535/QĐ-CTN ngày 31/8/2021 về Đặc xá năm 2021 của Chủ tịch nước


2. Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 88 về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước, trong đó nội dung khoản 3 quy định Chủ tịch nước có quyền quyết định đặc xá. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp về đặc xá, Luật Đặc xá 2018 (thay thế Luật đặc xá năm 2007) được Quốc hội thông qua ngày 19/11/2018, có hiệu lực từ 01/07/2019 với 39 điều quy định về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá.

- Về thẩm quyền, thời điểm quyết định đặc xá: Khoản 1, Điều 3 Luật Đặc xá 2018 quy định: “đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt”. Như vậy, đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước qua việc quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Thẩm quyền quyết định thuộc về Chủ tịch nước.

Về thời điểm đặc xá, Điều 5 của Luật đặc xá quy định: Chủ tịch nước xem xét, quyết định về đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước Chủ tịch nước xem xét, quyết định đặc xá mà không phụ thuộc vào thời điểm này.

- Về đối tượng được đề nghị đặc xá: Theo quy định tại Điều 2, Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 và Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 52/2019/NĐ - CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đặc xá thì đối tượng được đề nghị đặc xá bao gồm: Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Bên cạnh đó, trong trường hợp đặc biệt, cần xác định đối tượng được đề nghị đặc xá theo quy định tại Điều 22 Luật Đặc xá.

- Về điều kiện của người được đề nghị đặc xá, Điều 11 Luật đặc xá 2018 quy định:

1. Đối với người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;

b) Đã chấp hành án phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù.

Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần hai thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;

c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;

d) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá;

đ) Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản này.

Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;

e) Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;

g) Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 12 của Luật này.

2. Đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ;

b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

c) Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;

d) Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

3. Người có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản 2 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;

b) Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng Lao động”; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;

c) Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;

d) Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;

đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên;

e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình;

g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ;

h) Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự;

i) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

4. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g khoản 1, điểm a và điểm d khoản 2 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.


Thiếu tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an, trao giấy chứng nhận cho người được đặc xá


Ngoài ra, tại Điều 12 Luật đặc xá còn quy định các trường hợp không được đề nghị đặc xá (kể cả có đủ điều kiện quy định tại Điều 11) khi thuộc một trong các trường hợp:

1. Bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự;

2. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự;

3. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;

4. Trước đó đã được đặc xá;

5. Có từ 02 tiền án trở lên;

6. Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

Điều 22 quy định về người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người đang chấp hành án phạt tù chung thân mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật này.

- Trên cơ sở quy định của Luật, Nghị định số 52/ NĐ - CP năm 2019 đã hướng dẫn quy định chi tiết điều kiện áp dụng Điều 11 Luật đặc xá. Tại  Điều 4 Nghị định quy định các điều kiện của người được đề nghị đặc xá. Cụ thể như sau:

1. Người bị kết án phạt tù có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá là người đã chấp hành nghiêm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động, cải tạo và các quý đã đủ thời gian xếp loại trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại khá hoặc tốt.

2. Người bị kết án phạt tù đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá là người thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án;

b) Có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;

c) Có văn bản đề nghị của người được thi hành án hoặc đại diện hợp pháp của người được thi hành án về việc không phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án đối với tài sản không thuộc sở hữu nhà nước.

3. Người bị kết án phạt tù đã thi hành được một phần nghĩa vụ tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại là trường hợp người đó và gia đình không còn tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án và không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng.

4. Người bị kết án phạt tù đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm a khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm;

b) Cứu được tính mạng người khác hoặc tài sản lớn (có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn;

c) Có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xác nhận.

Người đã có quyết định thi hành án phạt tù lập công lớn trong thời gian chờ đưa đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để chấp hành án phạt tù cũng được coi là lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù.

5. Người bị kết án phạt tù đang mắc bệnh hiểm nghèo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người mắc một trong các bệnh: Ung thư giai đoạn cuối; liệt; lao nặng kháng thuốc; xơ gan cổ trướng; suy tim độ III trở lên; suy thận độ IV trở lên; bệnh HIV giai đoạn lâm sàng IV đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc bệnh khác mà được Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là không tự phục vụ bản thân, nguy cơ tử vong cao.

6. Người bị kết án phạt tù đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân quy định tại điểm c khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người đang phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện liên tục từ 03 tháng trở lên hoặc không liên tục nhưng phải nằm điều trị tại bệnh viện từ ba lần trở lên, mỗi lần từ 01 tháng trở lên, không tự phục vụ bản thân, có kết luận bằng văn bản của Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên.

7. Người bị kết án phạt tù có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình quy định tại điểm e khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là trường hợp gia đình của người bị kết án phạt tù đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không còn tài sản gì đáng kể, không có thu nhập hoặc thu nhập dưới mức chuẩn hộ nghèo hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con ốm nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người đó là lao động duy nhất trong gia đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú xác nhận là đúng.

Như vậy, quy định của pháp luật hiện hành khá đầy đủ, chi tiết về những điều kiện của người được đề nghị đặc xá. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta. Đặc biệt, sự kiện Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho hơn 3000 phạm nhân nhân dịp Quốc khánh mùng 2/9/2021 trong bối cảnh tình hình trong nước cũng như trên thế giới đang rất nhiều biến động khó lường với những khó khăn, phức tạp đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, góp phần quan trọng trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam./.

N.T.T.H (Khoa Luật)

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1.  Hiến pháp năm 2013
  2.  Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 2015
  3.  Luật đặc xá 2018
  4.  Nghị định số 52/2019/NĐ - CP ngày 14/6/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đặc xá
  5.  https://cand.com.vn/thoi-su/cong-bo-quyet-dinh-pham-nhan-i626376/
  6.  [1]. https://cand.com.vn/thoi-su/cong-bo-quyet-dinh-dac-xa-pham-nhan-i626376/



arrow_upward