Chuyên mục pháp luật

Những điểm sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự

Ngày 12/11/2021, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2021. Luật này gồm 2 điều: “Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự” và “Điều 2. Điều khoản thi hành”. Theo đó, Bộ luật Tố tụng hình sự sẽ có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 146:“3. Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”.

Theo quy định khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự, lực lượng công an xã chỉ có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tin báo kèm theo các tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan điều tra có thẩm quyền [1]. Việc bổ sung quy định lực lượng này có thể “tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ” là hoàn toàn phù hợp vì lực lượng công an xã hiện nay đã được chính quy hóa ở hầu hết các địa phương. Quy định của điều luật mở rộng hơn hơn trách nhiệm của lực lượng Công an xã không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin về tội phạm và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết mà lực lượng này hoàn toàn có căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ, giúp giảm tải bớt hoạt động kiểm tra, xác minh cho cơ quan điều tra cấp huyện, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, xử lý kịp thời, nhanh chóng các vụ việc ngay tại địa bàn cơ sở.

Thứ hai, bổ sung điểm c vào sau điểm b khoản 1 Điều 148:

“c) Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”

Việc bổ sung thêm nội dung này vào căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 148) là hoàn toàn phù hợp trong tình hình hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian vừa qua, đặc biệt là vào những thời điểm phải giản cách xã hội ở một số địa phương để chống dịch, thì việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gặp phải rất nhiều khó khăn, thậm chí một số hoạt động phải tiến hành trực tiếp tại địa bàn hầu như không thể thực hiện được. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung căn cứ tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố “vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh” là cần thiết.


Hình ảnh minh họa

 

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 155 như sau:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Theo quy định Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết [2]. Cụ thể là khởi tố theo yêu cầu bị hại với các tội: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội làm nhục người khác, Tội vu khống và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự đã bỏ trường hợp khởi tố tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo yêu cầu bị hại nhằm tăng cường bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với cả chỉ dẫn địa lý tương tự như với nhãn hiệu, đảm bảo công bằng, thống nhất trong áp dụng chính sách hình sự và kỹ thuật lập pháp; phù hợp với chủ trương tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, nhất là trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới như hiện nay.

Như vậy, trường hợp tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự sẽ không được khởi tố theo yêu cầu bị hại như quy định trước đây.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 157 như sau:

“8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.”.

Khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố [3].

Tương tự như trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định lại căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, cụ thể là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại khoản 8 Điều 157 đã bỏ trường hợp tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố, góp phần hoàn thiện căn cứ không khởi tố vụ án hình sự;

Thứ năm, bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 229 như sau:

“d) Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”.

Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về trường hợp tạm đình chỉ điều tra. Tuy nhiên, các trường hợp có thể áp dụng tạm đình chỉ điều tra chưa bao quát hết được thực tiễn phát sinh trong thời gian gần đây, như là quá trình điều tra gặp phải thiên tai, dịch bệnh nên hết thời hạn điều tra nhưng không thể kết thúc điều tra được.

Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự bổ sung nội dung: “Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra” vào căn cứ để tạm đình chỉ điều tra là hoàn toàn cần thiết trong tình hình hiện nay, đặc biệt là với những vụ án hình sự xảy ra ở những địa bàn đang diễn ra thiên tai, dịch bệnh mà lực lượng chức năng không thể kết thúc điều tra được.

Thứ sáu, bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 247 như sau:

“d) Khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.”.

 Các trường hợp tạm đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tương tự như trường hợp tạm đình chỉ điều tra, nếu cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự để quyết định truy tố nhưng gặp phải thiên tai, dịch bệnh mà hết thời hạn quyết định truy tố theo quy định của Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự thì không thể tạm đình chỉ vụ án được vì không có căn cứ pháp lý.

Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định: “Khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố” làm căn cứ để tạm đình vụ án là hoàn toàn cần thiết trong tình hình hiện nay, tạo cơ sở pháp lý để lực lượng chức năng có thể tạm đình chỉ vụ án với những vụ án hình sự xảy ra ở những địa bàn đang diễn ra thiên tai, dịch bệnh mà lực lượng chức năng không thể hoàn thành hồ sơ và các thủ tục tố tụng để xem xét ra quyết định truy tố trong thời hạn luật định. Tránh trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự mà không có căn cứ pháp lý.

Như vậy, với những nội dung đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng hình sự như trên sẽ góp phần giúp cơ quan chức năng có đầy đủ cơ sở pháp lý để giải quyết những tình huống thực tế đã phát sinh và gây khó khăn cho quá trình giải quyết các vụ án hình sự trong thời gian vừa qua, cũng như góp phần hoàn thiện hơn Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

ThS Phạm Lê Duy Trường – T04

[1] Khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự

[3] Khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sụ

arrow_upward