Chuyên mục pháp luật

Nguyễn Thị T. phạm tội gì?

Do bị chị V. nghi ngờ trộm tiền nên Nguyễn Thị T. thù tức và nảy sinh ý định trả thù chị V. Khoảng 9h giờ ngày 14/5/2019, lợi dụng gia đình chị V đi vắng, Nguyễn Thị T. đã đổ 1 chai thuốc diệt cỏ nhãn hiệu Fansipan 200SL loại 100ml bên trong có chứa Paraquat (là thuốc diệt cỏ nhóm Bipyridilium, nhóm độc I) xuống giếng nước trong sân nhà chị V.


Hình minh họa

Ngày 15/5/2019, tiếp tục lợi dụng nhà chị V đi vắng, T. Lại mang một chai thuốc diệt cỏ định đổ vào chai dầu gội đầu của chị V. nhưng do chai dầu gội được để trong nhà, cửa khóa nên T. không thực hiện được. Thời điểm này chị V. bất ngờ trở về, thấy T. đi từ trong nhà mình ra nên đã kiểm tra camera và phát hiện việc T. đổ thuốc diệt cỏ xuống giếng ngày hôm trước.

Qua làm việc với cơ quan điều tra, T. khai mua thuốc diệt cỏ đổ vào giếng nước và chai dầu gội đầu của chị V. nhằm mục đích cho chị V. rụng tóc. Cơ quan Công an đã lấy mẫu nước giếng của gia đình chị V. đi giám định. Kết quả giám định cho thấy chất độc trong nước chưa đủ để gây chết người. Cả 5 người trong gia đình chị V. được kết luận âm tính với chất độc từ thuốc diệt cỏ khi đến kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện. Tuy nhiên, giếng nước nhà chị V bị hư hỏng hoàn toàn, không thể tiếp tục sử dụng. Theo hội đồng định giá thì giếng nước có giá trị 5 triệu đồng.

Đối với việc định tội hành vi của Nguyễn Thị T. hiện có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng Nguyễn Thị T. phạm tội giết người theo quy định tại điểm l, khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người) ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Vì Paraquat thuộc nhóm chất diệt cỏ tác dụng nhanh và không chọn lọc. Nếu đi vào cơ thể người sẽ ăn mòn, phá hủy các bộ phận như phổi, thận, gan, tim… Do vậy, tỉ lệ tử vong của ngộ độc Paraquat rất cao. Chỉ cần uống phải 10-15 ml Paraquat có thể dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. T. ý thức được giếng nước là nguồn cung cấp nước ăn duy nhất của 5 người trong gia đình chị V. Hành vi của T. là cố ý và nếu không bị phát hiện thì cả gia đình chị V. đã là nạn nhân. Ngoài ra, việc bỏ thuốc diệt cỏ vào giếng nước là hành vi có khả năng làm chết nhiều người, giống như hành vi ném lựu đạn vào chỗ đông người dù người thực hiện hành vi chỉ mong muốn giết một người nào đó thôi. Tuy nhiên, vì trong vụ việc này chưa có hậu quả chết người xảy ra thì T. được áp dụng quy định tại Điều 15 BLHS về trường hợp phạm tội chưa đạt.

Quan điểm thứ hai cho rằng Nguyễn Thị T. phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại khoản 6, Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (dùng hóa chất nguy hiểm). Vì khi đổ thuốc diệt cỏ vào giếng nước nhà chị V., T. ý thức rõ sử dụng nguồn nước này sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe và thậm chí có thể gây chết người. Sau khi đổ 1 lọ thuốc diệt cỏ xuống giếng nhà chị V., T. chưa dừng lại mà ngày hôm sau tiếp tục mang 1 lọ thuốc khác sang định đổ vào chai dầu gội đầu của chị V. với mục đích làm chị V. rụng tóc, nhưng do nhà khóa cửa nên không thực hiện được. Kết quả giám định cho thấy chất độc trong nước chưa đủ để gây chết người nhưng hoàn toàn có thể gây ngộ độc, tổn hại sức khỏe cho con người. Tuy nhiên, do chưa có hậu quả tổn thương cơ thể cho những người trong gia đình chị V. nên chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự T. theo quy định tại khoản 6, Điều 134 BLHS.

Quan điểm thứ ba cho rằng chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T. về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự 2015. Vì mặc dù T. mong muốn trả thù chị V. nhưng kết quả cụ thể mà T. hướng đến, mong muốn đạt được là gì thì chưa rõ (mong muốn chị V. và gia đình bị chết, mong muốn chị V. bị tổn hại sức khỏe hay chỉ mong muốn chị V. bị rụng tóc?). Chỉ có thể khẳng định chắc chắn rằng T. biết hành vi của mình có thể dẫn đến chết người, có thể gây tổn hại sức khỏe, gây hư hỏng cho người khác mà vẫn thực hiện. Hay nói cách khác, vì mục đích trả thù chị V. mà T chấp nhận có thể gây ra các hậu quả trên. Trong trường hợp này thì hậu quả xảy ra đến đâu, T. sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ ba vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, đối với tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS. Tội giết người có thể được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Nếu là hình thức lỗi cố ý trực tiếp (người thực hiện hành vi mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra) thì hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Tuy nhiên, nếu là hình thức lỗi cố ý gián tiếp (người thực hiện hành vi không mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc, chấp nhận nếu hậu quả chết người xảy ra) thì dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc để định tội giết người. Đối với vụ việc chúng ta đang xem xét, nếu làm rõ được mục đích của T. là giết chị V. để trả thù thì việc định tội giết người đối với T. là phù hợp ngay cả khi chưa có hậu quả chết người xảy ra. Tuy nhiên, tình tiết vụ án và lời khai của T. không cho thấy điều đó. Mà chỉ có thể khẳng định rõ ràng T. nhận thức được hành vi đổ thuốc độc vào giếng nước nhà chị V. là nguy hiểm, có thể gây chết người, tổn hại sức khỏe, hư hỏng tài sản nhưng vì thù tức nên T. vẫn thực hiện để trả thù. Mặc dù Paraquat là chất độc, có thể gây chết người nhưng khả năng gây hậu quả chết người còn phụ thuộc vào liều lượng đổ xuống giếng và thể tích giếng (sẽ quyết định nồng độ chất độc trong nước giếng), lượng nước mà các nạn nhân uống… Đối với vụ việc này, kết quả giám định cho thấy chất độc trong nước chưa đủ để gây chết người. Điều đó cho thấy rằng T. chỉ chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra đối với gia đình chị V. chứ không nhất thiết phải giết bằng được chị V. và gia đình. Như vậy, hậu quả xảy ra đến đâu, T. sẽ phải chịu trách nhiệm đến đó. Vì vậy không thể xác định T. phạm tội giết người.

Thứ hai, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 BLHS thì hậu quả gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây chết người là dấu hiệu bắt buộc tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5. Chỉ có khoản 6 Điều 134 là không quy định dấu hiệu hậu quả. Tuy nhiên, khoản 6 lại quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đối với vụ việc chúng ta đang xem xét, hành vi của T. không còn là chuẩn bị phạm tội nữa. Vì vậy, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T. theo khoản nào của Điều 134 BLHS.

Theo quan điểm của tác giả, đây cũng là một khiếm khuyết của BLHS. Vì theo quy định tại Điều 134 BLHS, người

Thứ ba, xét theo quy định tại Điều 178 BLHS về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản thì hành vi của T. đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm. Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu định tội tại Điều 178 BLHS./.

                                                                    Xuân Thụy - Khoa Luật – T04

                                                                                                       (Bài viết được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 4/2021, ISSN: 1859-4875)


arrow_upward