Chuyên mục pháp luật

Một số vấn đề trao đổi về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI VỀ BIỆN PHÁP TẠM HOÃN XUẤT CẢNH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

                                                                                                                                Đại úy, Ths, Gv Phạm Lê Duy Trường -Khoa Luật – T04

 

Tóm tắt: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, chứa đựng nhiều điểm mới tiến bộ. Trong phạm vi bài viết tác giả trao đổi và phân tích làm rõ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được quy định tại Điều 124 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đây là vấn đề quan trọng, góp phần thống nhất nhận thức và thực tiễn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong quá trình tố tụng hình sự.

Từ khóa: Biện pháp ngăn chặn, tạm hoãn xuất cảnh, tố tụng hình sự

Abstract: The 2015 Criminal Procedure Code was passed by the 13th National Assembly on November 27th, 2015 at the 10th session, contains many progressive points. Within the scope of the article, the author exchanges and analyzes the clarification of exit restriction specified in Article 124 of the 2015 Criminal Procedure Code. This is an important issue, contributing to the realization of awareness and appliance of the exit restriction in criminal proceedings.

Keywords: Preventive measures, Exit restriction,  Criminal procedure

Thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003 cho thấy, nhiều bị can, bị cáo, đặc biệt là người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố lợi dụng sơ hở, xuất cảnh ra nước ngoài để bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xác minh tin báo, tố giác tội phạm cũng như quá trình tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, góp phần khắc phục những điểm thiếu sót của Bộ luật TTHS năm 2003. Tuy nhiên, trãi qua quá trình thi hành đã bộc lộ một số vấn đề cần được thống nhất trong nhận thức và thực tiễn áp dụng.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả khái quát quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, phân tích, chỉ rõ một số điểm còn hạn chế, bất cập quy định Bộ luật TTHS năm 2015 và hướng hoàn thiện BPNC này trong thời gian tới.

1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tạm hoãn xuất cảnh

Đây là BPNC mới được bổ sung trong Bộ luật TTHS năm 2015 nhằm đáp ứng yêu cầu phát hiện và xử lý tội phạm, phù hợp với Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 [1]. Trước đây, cụm từ “tạm hoãn xuất cảnh” đã được đề cập đến trong Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 [2]. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ là một biện pháp mang tính chất hành chính nên trong trường hợp đối tượng vi phạm đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn (biện pháp cưỡng chế trong TTHS) nhằm ngăn chặn tội phạm trong nước bỏ trốn ra nước ngoài thông xuất cảnh.

Xuất phát từ yêu cầu “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử… nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội” [3] trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, đồng thời xuất phát từ thực tiễn tình hình tội phạm hiện nay, khi nhiều trường hợp sau khi thực hiện hành vi vi phạm, trong quá trình cơ quan chức năng tiến hành xác minh, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã lợi dụng việc xuất cảnh để trốn ra nước ngoài, gây cản trở cho việc xử lý vụ án và thi hành hình phạt, cho nên Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

- Về đối tượng áp dụng: Theo quy định Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015, tạm hoãn xuất cảnh có thể được áp dụng với hai nhóm đối tượng sau đây:

Một là, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Mặc dù đây là những người chưa bị khởi tố hình sự nhưng là người bị người khác tố giác hoặc bị cơ quan, tổ chức kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự mà qua việc kiểm tra, xác minh sự việc bị tố giác, kiến nghị khởi tố đó có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Hai là, bị can, bị cáo [4].

Đây là những đối tượng đã bị khởi tố về hình sự nhưng được tại ngoại điều tra, truy tố, xét xử hoặc chờ thi hành án và họ đang có hành vi chuẩn bị xuất cảnh ra nước ngoài nhằm tránh việc xử lý hành vi phạm tội hoặc trốn tránh việc thi hành án, theo quy định điều luật thì có thể hiểu bị can, bị cáo có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài nếu có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn.

- Thẩm quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định Điều 124, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

- Thời hạn áp dụng: Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật TTHS. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

2. Một số điểm hạn chế, bất cập và hướng hoàn thiện

Trên cơ sở nghiên cứu quy định Bộ luật TTHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như sau:

Thứ nhất, chưa có văn bản pháp lý hướng dẫn về tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS.

Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là BPNC hoàn toàn mới được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015. Tuy nhiên, cho đến nay chưa văn bản pháp lý nào định nghĩa cụ thể về tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS. Mặc dù Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 có giải thích về thuật ngữ “tạm hoãn xuất cảnh” [5] nhưng theo cách giải thích này thì đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh chỉ là người nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời Nghị định số 136/2007/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam có quy định một số trường hợp công dân Việt Nam trong nước “chưa được xuất cảnh” [6], nhưng quy định này vẫn chưa giải thích rõ được nội hàm của biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS.

Bên cạnh đó, đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh theo quy định Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015 là người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài. Nhưng theo bình luận của một số nhà nghiên cứu thì trên thực tiễn áp dụng cho thấy biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thường chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo có quốc tịch nước ngoài, đối với bị can bị cáo là công dân Việt Nam nếu thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú [7]. Qua đó có thể thấy được việc nhận thức về tạm hoãn xuất cảnh hiện nay vẫn chưa thống nhất.

Mặt khác, trong vụ án hình sự, bị can, bị cáo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các mức độ khác nhau, có thể là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Thực tiễn quá trình tố tụng cho thấy những bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thường có dấu hiệu xuất cảnh để bỏ trốn cao hơn bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng và ít nghiêm trọng. Hiểu theo quy định điểm b, khoản 1 Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015 thì tất cả bị can, bị cáo có dấu hiệu xuất cảnh để bỏ trốn thì đều có thể áp dụng tạm hoãn xuất cảnh. Như vậy dễ dẫn đến việc áp dụng tạm hoãn xuất cảnh tràn lan, không cần thiết. Đồng thời việc áp dụng tạm hoãn xuất cảnh vào thời gian cụ thể nào và căn cứ vào đâu để đánh giá bị can, bị cáo có dấu hiệu xuất cảnh để bỏ trốn cho đến hiện tại vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định cụ thể.

Do đó, theo tác giả thời gian tới cần có các văn bản pháp lý hướng dẫn cụ thể biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS, để các Cơ quan tiến hành TTHS có cách hiểu và nhìn nhận đúng đắn về bản chất BPNC này.

Thứ hai, quy định về đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh còn chưa cân xứng, hợp lý, chưa thống nhất với quy định về đối tượng chung bị áp dụng BPNC.

Một là, quy định khoản 1, Điều 124 về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh chưa cân xứng, hợp lý.

Từ quy định tại khoản 1, Điều 124, có thể hiểu đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh là những người mà khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn, cụ thể là gồm 2 nhóm: Nhóm 1 gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; Nhóm 2 gồm bị can, bị cáo. Có thể thấy được 2 nhóm đối tượng áp dụng nêu trên điều luật quy định chưa cân xứng. Cụ thể là đối tượng áp dụng thuộc nhóm 1 phải kèm theo điều kiện“qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Tuy nhiên, đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh thuộc nhóm 2 điều luật chỉ quy định là “bị can, bị cáo” có thể hiểu là trường hợp bị can, bị cáo có dấu hiệu xuất cảnh để bỏ trốn. Nhưng trên thực tế cũng có trường hợp bị can, bị cáo xuất cảnh không vì mục đích bỏ trốn mà chỉ để tiêu hủy chứng cứ của vụ án. Vậy, trường hợp bị can, bị cáo có dấu hiệu xuất cảnh nhằm tiêu hủy chứng cứ thì có cần tạm hoãn xuất cảnh hay không thì điều luật chưa đề cập tới. Theo quan điểm của tác giả, cần sửa đổi lại khoản 1 Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015 thành “1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau:” đồng thời bổ sung điểm b, khoản 1, Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015 thành “bị can, bị cáo mà có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ là để bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ” để có thể hoàn thiện quy định của điều luật.

Hai là, quy định chung về đối tượng bị áp dụng BPNC tại khoản 1 Điều 109 chưa bao quát hết nội dung đối tượng áp dụng tạm hoãn xuất cảnh.

Tạm hoãn xuất cảnh là 1 trong 8 BPNC được quy định tại chương VII của Bộ luật TTHS năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật TTHS năm 2015 xác định đối tượng chung để áp dụng các BPNC là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội...”. Bên cạnh đó, điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 lại quy định: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” mà không có “người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố”. Như vậy, trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đã thực hiện xong hành vi phạm tội, thì theo quy định của Điều 109 và Điều 4 thì họ không phải là đối tượng bị áp dụng BPNC. Qua phân tích có thể thấy Điều 124, Điều 109 và Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 chưa có sự thống nhất.

Do đó theo quan điểm của tác giả, để đảm bảo nguyên tắc pháp chế và tính thống nhất trong Bộ luật TTHS năm 2015, khoản 1 Điều 109 nên được bổ sung thêm cụm từ “người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố” là đối tượng có thể được áp dụng BPNC.

Thứ ba, Bộ luật TTHS năm 2015 không quy định về việc gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định khá cụ thể về thời hạn đối với rất nhiều vấn đề trong suốt quá trình tố tụng, trong đó cũng đã đề cập đến thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Cụ thể là khoản 3 Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này…”

Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTHS năm 2015 thì thời hạn tối đa để giải quyết nguồn tin về tội phạm (kể cả được gia hạn) là không quá 04 tháng 20 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Hết thời hạn nêu trên, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định sau: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với trường hợp khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, việc áp dụng hoặc hủy bỏ các BPNC đã được quy định cụ thể, rõ ràng không có vướng mắc. Tuy nhiên, trong trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố thì Bộ luật TTHS năm 2015 lại chưa quy định, trong khi đó tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được thực hiện”. Do vậy, trong trường hợp này nếu hết thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thì thời hạn tạm hoãn xuất cảnh cũng hết (vì thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá thời hạn xác minh nguồn tin tội phạm theo quy định khoản 3 Điều 124 Bộ luật TTHS năm 2015) thì mặc nhiên người đó được xuất cảnh sang nước ngoài, trong khi cơ quan giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp điều tra để chứng minh tội phạm và khi đã đủ chứng cứ chứng minh tội phạm thì người phạm tội đã bỏ trốn sang nước ngoài, do đó gây khó khăn, tốn kém cho công tác điều tra, truy tố, xét xử… nhất là hiện nay việc thực hiện tương trợ tư pháp hình sự về dẫn độ, ủy thác tư pháp… còn nhiều bất cập. Do vậy, việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp này không hiệu quả [8]. Cho nên, trường hợp như thế này cần phải gia hạn thời hạn áp dụng tạm hoãn xuất cảnh mới có thể đảm bảo hiệu quả tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, các BPNC có thời hạn áp dụng như tạm giữ, tạm giam, khi hết thời hạn áp dụng nếu muốn tiếp tục áp dụng thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam và Bộ luật TTHS 2015 đã quy định cụ thể về số lần và thời hạn gia hạn tạm giữ, tạm giam. Trong khi đó biện pháp tạm hoãn xuất cảnh cũng áp dụng trong một thời hạn nhất định nhưng Bộ luật TTHS 2015 chỉ quy định thời hạn áp dụng “không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử” mà không quy định về việc gia hạn thời hạn tạm hoãn xuất cảnh. Chẳng hạn như trường hợp đang áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì hết thời hạn điều tra và tiến hành gia hạn thời hạn điều tra thì có thể tiếp tục áp dụng tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can, bị cáo được hay không? Vì hiện tại điều luật quy định về tạm hoãn xuất cảnh hoàn toàn không đề cập đến việc gia hạn thời hạn áp dụng tạm hoãn xuất cảnh. Với quy định chung chung chưa rõ ràng như vậy đã dẫn đến việc lúng túng và thực hiện không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, theo quan điểm của tác giả cần bổ sung Điều 124 quy định về việc gia hạn thời gian áp dụng tạm hoãn xuất cảnh trong một số trường hợp nhất định.

Thứ tư, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định chưa rõ là có thể áp dụng cùng lúc biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hay không.

Trong thực tiễn thi hành Bộ luật TTHS năm 2003, các Cơ quan tiến hành tố tụng thường chỉ áp dụng một trong số các BPNC được quy định trong Bộ luật TTHS với một người, về nguyên tắc không được áp dụng cùng lúc hai BPNC [9] .

Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung thêm biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì đã phát sinh một số vấn đề vướng mắc. Trong đó có việc có thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh cùng lúc với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được hay không? [10]

Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp hạn chế quyền tự do đi lại của người bị áp dụng ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam chứ không hạn chế quyền tự do đi lại trong nước, vì vậy nếu chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người phạm tội thì sẽ có lúc dẫn đến khó khăn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Trong thực tiễn tiến hành tố tụng, một số đơn vị sau khi ra quyết định khởi tố bị can, đã áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh nhưng cũng đồng thời áp dụng cả biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can vì cho rằng: Cục quản lý xuất nhập cảnh quản lý việc xuất cảnh, còn cấm đi khỏi nơi cư trú thì được quản lý bởi chính quyền địa phương. Do đó, nếu không áp dụng cả biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và cấm đi khỏi nơi cư trú thì sợ bị can sẽ bỏ trốn ra nước ngoài hoặc gây khó khăn cho quá trình tiến hành tố tụng và Bộ luật TTHS năm 2015 cũng không cấm áp dụng hai BPNC cùng trong một khoảng thời gian. Nên theo ý kiến tác giả Điều 124 nên bổ sung quy định “tạm hoãn xuất cảnh có thể áp dụng kèm với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Trên đây tác giả đã trao đổi một số vấn đề về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015, biện pháp này đã được bổ sung nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật TTHS về chế định các BPNC. Tuy nhiên qua phân tích có thể thấy quy định biện pháp tạm hoãn xuất cảnh vẫn còn một số điểm hạn chế, bất cập, chưa thống nhất. Do đó tác giả mạnh dạn đề xuất một số ý kiến cá nhân để góp phần hoàn thiện quy định Bộ luật TTHS năm 2015 nói chung cũng như quy định về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.

P.L.D.T

[1] Trần Văn Biên – Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2015, NXb Thế giới, tr. 124

[2] Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định: “Tạm hoãn xuất cảnh là việc người có thẩm quyền của Việt Nam quyết định tạm dừng xuất cảnh có thời hạn đối với người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam”.

[3] Chỉ thị số 48-CT/TW của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

[4] Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật TTHS năm 2015“Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự”, khoản 1 Điều 61 Bộ luật TTHS năm 2015“Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”

[5] Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định: “7. Tạm hoãn xuất cảnh là việc người có thẩm quyền của Việt Nam quyết định tạm dừng xuất cảnh có thời hạn đối với người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam”.

[6] Xem Điều 21 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam

[7] Nguyễn Ngọc Anh – Phan Trung Hoài (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, NXb Chính trị Quốc gia sự thật, tr.272

[8] Trần Văn Tuấn (2019), “Quy định của BLTTHS năm 2015 về tạm hoãn xuất cảnh và một số bất cập” (https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/quy-dinh-cua-bltths-nam-2015-ve-tam-hoan-xuat-canh-va-mot-so-bat-cap)

[9] Điều 79 Bộ luật TTHS 2003 “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”. Có thể hiểu Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ cho phép áp dụng một trong các BPNC mà luật định, nên không thể áp dụng cùng lúc hai BPNC.

[10] Điều 109 Bộ luật TTHS 2015 “1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Luật quy định cơ quan, người có thẩm quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp... chứ không nói rõ là có thể áp dụng “một trong những biện pháp ngăn chặn” như quy định tại Điều 79 Bộ luật TTHS năm 2003.

 

arrow_upward