Chuyên mục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật thương mại từ góc độ bảo đảm an ninh kinh tế

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI TỪ GÓC ĐỘ BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ

 

Thượng tá, TS. Hà Ngọc Anh

Phó Trưởng Khoa Luật Trường Đại học ANND

  

1.      Khái niệm an ninh kinh tế và yêu cầu bảo đảm an ninh kinh tế

Bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc chỉ ra rằng an ninh quốc tế không chỉ giới hạn trong ý nghĩa truyền thống của nó, mà còn bao gồm những hàm nghĩa an ninh mới xuất hiện cùng với thời đại và tương lai. Nhìn nhận vấn đề dưới lăng kính của tổ chức quốc tế, theo Liên hợp quốc, an ninh phi truyền thống bao gồm bảy lĩnh vực là: kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị [1].

Ở cấp độ khu vực, giới học giả Việt Nam cũng đưa ra một số cách tiếp cận đối với vấn đề an ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á, theo đó nội hàm của quan niệm an ninh phi truyền thống trong khu vực bao gồm những lĩnh vực: an ninh môi trường; an ninh năng lượng; an ninh kinh tế; an ninh con người; an ninh biển; khủng bố và chống khủng bố; thiên tai, dịch bệnh [2].

Tại Việt Nam, an ninh kinh tế được hiểu là một bộ phận của an ninh quốc gia hướng đến xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau. Bảo vệ an ninh kinh tế bao gồm các hoạt động về công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống âm mưu và hành động phá hoại kinh tế của các thế lực thù địch và các loại tội phạm kinh tế gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân; bảo vệ và thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước; sự an toàn của cơ sở vật chất, của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý và bí mật kinh tế.

Nói cách khác, bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ sự ổn định, phát triển vững mạnh của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chống các biểu hiện chệch hướng và các hoạt động phá hoại cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền kinh tế, gây ảnh hưởng tác hại đến lợi ích của quốc gia;  bảo vệ đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế, các nhà khoa học, các nhà kinh doanh giỏi không để nước ngoài lôi kéo mua chuộc gây tổn thất hoặc làm chuyển hướng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bảo vệ an ninh kinh tế là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các ngành, các cấp và mọi công dân, trong đó thủ trưởng các ngành, các đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm chính. Lực lượng công an nhân dân tham mưu, hướng dẫn vừa trực tiếp đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm phá hoại kinh tế.


Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Hội nghị sơ kết công tác đảm bảo an ninh kinh tế (ANKT) giai đoạn 2009 - 2016 và triển khai Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2017 của Bộ Chính trị


Việc bảo đảm an ninh kinh tế là điều kiện, tiền đề quan trọng để nền kinh tế nước ta gia tăng sức mạnh nội lực, năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng, có những bước phát triển vững chắc và bao gồm những yêu cầu cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo quyết liệt hơn trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp về bảo đảm an ninh kinh tế theo tinh thần Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị, góp phần đưa Chỉ thị thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo sự chuyển biến rõ nét, mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp, các ngành, cùng với lực lượng công an phải quán triệt triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo, chính sách của Đảng, Nhà nước về về công tác bảo đảm an ninh kinh tế thành các chương trình, kế hoạch và trách nhiệm của từng cấp, ngành để thực hiện có hiệu quả. Quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng các bộ, ngành, địa phương trong công tác bảo đảm an ninh kinh tế; những chương trình, đề án, dự án hợp tác quốc tế, đầu tư nước ngoài vào địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh chỉ được phê duyệt khi có ý kiến đồng thuận của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các biện pháp công tác công an góp phần bảo vệ kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, làm tốt công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế, bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, không để xảy ra các sơ hở, thiếu sót.

Thứ tư, kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm trên lĩnh vực kinh tế.

Thứ năm, đổi mới phương thức và đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền tới các cấp, ngành, từ Trung ương đến địa phương, về trách nhiệm bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo những chuyển biến tích cực, rõ nét hơn từ nhận thức đến hành động, đưa công tác bảo đảm an ninh kinh tế trở thành trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

2.      Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến công tác bảo đảm an ninh kinh tế

Với mục tiêu bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩ; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ vững chắc an ninh kinh tế - tài chính quốc gia; kết hợp chặ chẽ giữa bảo vệ an ninh quốc gia với phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm an ninh kinh tế.

Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về cơ bản đã đầy đủ, ổn định đảm bảo cho công tác quản lý và phát triển kinh tế được an ninh, an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những hạn chế nhất định cần phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Cụ thể như sau:

2.1.    Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực từ 1/1/2021)

Với vai trò là đạo luật cơ bản, trực tiếp điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã đặt mục tiêu hoàn thiện khung khổ pháp lý về tổ chức quản trị doanh nghiệp đạt chuẩn mực của thông lệ tốt và phổ biến ở khu vực và quốc tế; thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thu hút vốn, nguồn lực vào sản xuất kinh doanh; góp phần nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh theo mục tiêu mà Chính phủ đã đặt ra là thuộc nhóm các nước ASEAN 4 với các mục tiêu cụ thể bao gồm:

(i) Tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thành lập và đăng ký doanh nghiệp; cắt giảm chi phí và thời gian trong khởi sự kinh doanh; góp phần nâng xếp hạng chỉ số khởi sự kinh doanh lên ít nhất 25 bậc (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới);

(ii) Nâng cao cơ chế bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp; thúc đẩy quản trị doanh nghiệp đạt chuẩn mực theo thông lệ tốt và phổ biến trong khu vực và quốc tế; nâng mức xếp hạng chỉ số bảo vệ nhà đầu tư lên ít nhất 20 bậc (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới);

(iii) Nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với doanh nghiệp mà nhà nước có phần vốn góp chi phối; tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh phát huy tối đa tiềm năng và lợi ích, đóng góp cho phát triển kinh tế;

(iv) Tạo thuận lợi hơn, giảm chi phí trong tổ chức lại doanh nghiệp: sáp nhập, hợp nhất, chia, tách và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp [3].

Với những mục tiêu, định hướng cụ thể và phù hợp với tình hình hiện tại, nhìn chung, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

2.2.      Luật Thương mại năm 2005

Đây là một trong những đạo luật có những tác động lớn đối với lĩnh vực kinh tế. Từ khi được ban hành, Luật Thương mại năm 2005 đã có nhiều tác động tích cực đến đời sống kinh tế – xã hội của Việt Nam, từng bước đưa hoạt động thương mại vào nề nếp, khuyến khích và phát triển hoạt động thương mại hợp pháp, ngăn chặn và xử lý các hành vi bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến môi trường thương mại. Tuy nhiên cùng với sự hội nhập và phát triển, Luật Thương mại năm 2005 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, đòi hỏi cần được bổ sung và sửa đổi để tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển và nâng cao tính khả thi của các đạo luật.

Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các hoạt động thương mại ở nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ. Thêm vào đó, rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành đã được ban hành hoặc đang được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của hoạt động thương mại. Do đó, nhiều chế định của Luật Thương mại năm 2005 đã tỏ ra lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn, vô tình trở thành rào cản cho các thương nhân khi hoạt động trên thị trường. Theo quan điểm của nhiều chuyên gia, điều bất cập lớn nhất hiện nay của Luật Thương mại năm 2005 đó là, tuy được coi là luật chung tạo nền tảng cho các hoạt động thương mại của thương nhân, song hầu hết các quy định quan trọng về hoạt động thương mại, chính sách thương mại trong quan hệ thương mại tư đều không thể tìm thấy trong Luật [4].

Báo cáo tóm tắt tổng kết thực tiễn thi hành Luật Thương mại 2005 cũng đã nêu rõ một số vấn đề đặt ra trong thực hiện Luật Thương mại còn tồn tại, bao gồm:

(i) Trong hoạt động thương mại nội địa, tuy có bùng nổ về số lượng, chất lượng thương nhân, hàng hóa nhưng sự phát triển mạnh mẽ này có nhiều yếu tố tham gia của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Cụ thể, trong lĩnh phân phối hàng hóa hiện đại, các siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, doanh nghiệp có vốn FDI có số lượng không nhiều nhưng lại chiếm tỉ trọng rất lớn và ngày càng tăng. Hơn nữa, với chiến lược kinh doanh chấp nhận lỗ lớn trong thời gian dài cộng với những thủ thuật chuyển giá tinh vi, các cơ sở phân phối này mặc dù liên tục báo lỗ và gần như không phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Tuy vậy, các chuỗi cơ sở bán lẻ này lại liên tục mở rộng, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh với doanh nghiệp phân phối trong nước. Tâm lý chuộng nhà đầu tư nước ngoài hơn nhà đầu tư trong nước trong lĩnh vực thương mại, không tuân thủ quy hoạch của địa phương cũng là rào cản không nhỏ cho các nhà đầu tư nội địa;

(ii)Hoạt động quản lý, định hướng hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là quản lý nhập khẩu còn lúng túng;

(iii) Các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại diễn ra ngày càng phức tạp, khó lường;

(iv)Một số phương thức hoạt động thương mại mới đang hình thành và phát triển nhưng cơ sở pháp lý cho hoạt động này còn thấp hoặc chưa cụ thể mà chủ yếu nằm ở các văn bản dưới Luật. Điều này đặt ra nhu cầu cần thiết nghiên cứu, bổ sung các quy định khả thi, cần thiết vào Luật Thương mại nhằm tạo cơ sở pháp lý cao, đồng bộ cho các hoạt động này.

2.3 Luật Đầu tư năm 2020

Đây là một đạo luật có vai trò quan trọng với mục tiêu nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; cụ thể là:

 (i) Nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn trên cơ sở bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường;

(ii)Hoàn thiện các quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh, đồng thời cắt giảm một số ngành, nghề không cần thiết, bất hợp lý nhằm tiếp tục bảo đảm thực hiện đầy đủ, nhất quán quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà Luật không cấm hoặc quy định phải có điều kiện;

(iii) Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động đăng ký đầu tư; cắt giảm chi phí và thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giữa các cơ quan trung ương và cơ quan địa phương trên cơ sở đảm bảo hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh [5].

Đặc biệt, để thể chế hóa chủ trương tại Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 5-1-2017 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”, thực hiện Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 13-9-2017 của Chính phủ kèm theo Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW, Luật Đầu tư năm 2020 bổ sung quy định yêu cầu chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp đầu tư góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp có dự án đầu tư, kinh doanh trong một số địa bàn có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh [6].

Khoản 2 Điều 24 Luật Đầu tư năm 2020 quy định rõ: Việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế phải đáp ứng các quy định, điều kiện sau đây: .. b) Bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật này; c) Quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển.

Trong bài viết “An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài là trạng thái thể hiện sự bảo đảm an toàn, ổn định và tính bền vững của các khoản lợi ích và sự phát triển của doanh nghiệp, ngành, quốc gia hoặc khu vực khi thực hiện các giao dịch nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài để bảo đảm an ninh cần phải tuân thủ nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, bình đẳng, không có tình trạng thoái lui đầu tư ồ ạt làm sụt giảm khả năng vận hành của nền kinh tế, dẫn nền kinh tế đến tình trạng khủng hoảng. Nước sở tại phải duy trì được khả năng kiểm soát và điều hành nền kinh tế, bảo đảm được tính độc lập và tự chủ, rộng mở của nước sở tại trong hoạch định chính sách và thực hiện quy trình thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư trong nước có khả năng chi phối quá trình ra quyết định trong các dự án đầu tư nước ngoài và khả năng lũng đoạn của nhà đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế được giảm thiểu. Tình trạng cạnh tranh gay gắt để giành nơi đầu tư có lợi và triệt để khai thác các khoản lợi ích kinh tế, có thể dẫn đến sự thay đổi quan hệ giữa các nhóm lợi ích và làm thay đổi tương quan quyền lực. Ở mức độ lớn hơn, điều này còn làm thay đổi cả các quan hệ chính trị trong nước [7].

An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài có thể được xem xét ở một số khía cạnh nhất định. Các khía cạnh này bao gồm:

 (i) Quy định các lĩnh vực cấm đầu tư, hạn chế đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư hoặc quy định mức góp vốn trong các dự án quan trọng chỉ ở một tỷ lệ nhất định [8];

(ii) Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và thông thường phương châm được quán triệt là “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”;

(iii) Quy định cơ cấu nhân sự và nguyên tắc nhất trí của hội đồng quản trị. Nếu tổng giám đốc là người nước ngoài thì phó tổng giám đốc thứ nhất là người trong nước. Đây là việc quy định một cơ cấu điều hành và quyền lực lãnh đạo doanh nghiệp có sự chế ước song hoặc đa phương;

(iv) Quy định không quốc hữu hoá, trưng dụng, tịch thu hoặc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài để tránh tình trạng rút vốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài gây đổ bể dự án [9]. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc “không hồi tố” đối với trường hợp chính sách có sự thay đổi bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài [10];

(v) Các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở… là những địa điểm chịu sự chi phối rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài; (vi) Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể các thông tin kinh tế – xã hội cơ bản bị tiết lộ, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về thói quen, tập quán, nhận thức… Thậm chí có thể xuất hiện những vụ bạo động do các phần tử quá khích hoặc các thế lực phản động quốc tế lợi dụng việc nghiên cứu cơ hội đầu tư nước ngoài để thực hiện “diễn biến hoà bình”, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn vào công việc nội bộ về kinh tế như chi phối thị trường, chi phối quá trình hoạch định chính sách, lũng đoạn thị trường…

2.4. Luật cạnh tranh năm 2018

Theo tờ trình Chính phủ về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) số 377/TTr-CP ngày 06/9/2017, mục tiêu xuyên suốt của Luật Cạnh tranh là “Bảo vệ môi trường cạnh tranh, hoạt động cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tăng cường hiệu quả của nền kinh tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam”.

Với mục tiêu đó, các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 đã được xây dựng theo hướng đảm bảo và tăng cường khả năng thực thi thông qua tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ các quy định của Luật và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng; đảm bảo tính hợp lý về mặt kinh tế, theo đó phát huy được các tác động tích cực, hạn chế giảm thiểu các tác động phản cạnh tranh của các hành vi kinh doanh trên thị trường.

Đặc biệt, Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh [11] đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh; không trực tiếp đề cập nhưng hướng đến bảo đảm an ninh kinh tế thông qua bảo đảm cạnh tranh như linh hồn, động lực của nền kinh tế thị trường [12].

Bên cạnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã điều chỉnh cách tiếp cận trong việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền theo hướng phù hợp với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường và thông lệ quốc tế, nâng cao hiệu quả thực thi. Cụ thể:

(i) Không tiếp cận kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ dựa vào tiêu chí thị phần như hiện nay, mà kiểm soát hành vi trên cơ sở bản chất, tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi;

(ii) Bổ sung hệ thống các tiêu chí đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp một cách chính xác, toàn diện hơn, không chỉ dựa vào tiêu chí thị phần như hiện nay;

(iii) Quy định cấm mặc nhiên đối với những hành vi thoả thuận có bản chất hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng, đặc biệt là các hành vi thoả thuận ấn định giá, phân chia thị trường, kiểm soát sản lượng và thông đồng đấu thầu.

Mặt khác, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về tội vi phạm quy định về cạnh tranh, tuy nhiên chỉ đề cập tới hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và cũng bao quát được hết các hành vi thỏa thuận gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh [13]. Bên cạnh các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn có các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế tuy không được Bộ luật Hình sự quy định nhưng đã được Luật Cạnh tranh năm 2018 điều chỉnh.

Ngoài ra, Điều 27 Luật Cạnh tranh năm 2018 còn xác định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm theo  hướng không quy định chi tiết các dấu hiệu của hành vi, để cho Ủy ban Cạnh tranh quốc gia có quyền xem xét, quyết định về chủ thể doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể hay không, về hành vi - hành vi có dấu hiệu vi phạm hay không và  về hậu quả dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh/ gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng. Từ góc độ bảo đảm an ninh kinh tế, cách tiếp cận như trên đã tạo cơ sở cho cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh có khả năng xử lý các hành vi mà theo Luật Cạnh tranh năm 2004 không xử lý được như vụ Công ty Cổ phần CP tăng giá trứng gà không hợp lý, làm ảnh hưởng đến thị trường [14]; hoặc trường hợp lũng đoạn thị trường thịt heo từ các công ty chăn nuôi [15] …

Nhìn chung, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã thay đổi cách thức tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng trao quyền cho cơ quan cạnh tranh trong việc đánh giá tác động cạnh tranh của việc tập trung kinh tế và tăng cường sự chủ động của doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan cạnh tranh và mở rộng các yếu tố đánh giá một vụ việc tập trung kinh tế. Cụ thể:

(i) Quy định các tiêu chí để doanh nghiệp có thể tự xác định giao dịch có thuộc trường hợp phải thông báo hay không, bao gồm: thị phần trên thị trường liên quan, giá trị giao dịch tập trung kinh tế và tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam;

(ii) Quy định Uỷ ban cạnh tranh Quốc gia thẩm định tập trung kinh tế trên cơ sở đánh giá cấu trúc thị trường, mức độ tập trung trên thị trường, khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường và tác động tích cực của việc tập trung kinh tế đối với nền kinh tế;

(iii) Mở rộng phạm vi kiểm soát bao gồm cả những giao dịch tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp thông qua việc thay đổi các tiêu chí xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế và thay đổi tiêu chí đánh giá, thẩm định tập trung kinh tế.

3.      Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật thương mại từ góc độ bảo đảm an ninh kinh tế

Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 51, với phương châm nêu cao tinh thần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ an ninh quốc gia; dự báo sát tình hình biến động của cục diện thế giới, khu vực và của đất nước. Trên cơ sở thống kê, làm rõ, đánh giá hiệu quả của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong việc đảm bảo an ninh kinh tế, tác giả đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thương mại nói riêng bao gồm Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và Luật Đầu để bảo đảm an ninh kinh tế, đáp ứng các yêu cầu nêu trên như sau:

Thứ nhất, cần nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung của Luật Thương mại 2005 theo hướng:

(i) Bổ sung chính sách hỗ trợ thương mại của Nhà nước đối với khu vực vùng sâu vùng xa, hải đảo và chính sách hỗ trợ việc xây dựng hạ tầng thương mại trên phạm vi cả nước;

(ii) Bổ sung quy định cụ thể về một số phương thức mua bán hàng hóa, phân phối hàng hóa, lưu thông hàng hóa trong nước;

 (iii) Điều chỉnh một số khái niệm cho phù hợp với cam kết quốc tế cũng như trong thực tiễn hoạt động thương mại;

(iv) Điều chỉnh nội dung quy định về xuất xứ hàng hóa cho phù hợp với thực tiễn cũng như cam kết quốc tế;

(v) Rà soát sửa đổi các nội dung liên quan đến nguyên tắc, hợp đồng, đấu giá và một số nội dung khác để phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự [16], Luật đấu giá tài sản và các điều ước quốc tế Việt Nam mới gia nhập, ký kết [17].

Thứ hai, Mặc dù Bộ Công Thương đã kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng xem xét quyết định việc nghiên cứu, trình dự án Luật Thương mại sửa đổi trong năm 2017 và thông qua vào năm 2018. Tuy nhiên, việc sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 vẫn chưa được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 [18], như vậy chưa đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của bảo đảm an ninh kinh tế.

Trong thời gian tới, cần đẩy nhanh quá trình sử đổi, an hành Luật Thương mại để có thể kịp thời giải quyết, khắc phục những vấn đề còn bất cập trong quá trình thực thi, giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc đầu tư, kinh doanh, góp phần ổn định kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế.

Thứ ba, như đã đánh giá ở mục 2.3, nhìn chung, quy định của Luật Đầu tư năm 2020 đã bước đầu đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia. Tuy nhiên, cần có cơ chế theo dõi, giám sát hợp lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài để giảm thiểu những tác động bất lợi của hoạt động thu hút đầu tư đến an ninh quốc gia trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc tôn trọng lợi ích và những quyền kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư, thiện chí hợp tác và làm ăn lâu dài; đồng thời cần có chế độ cảnh báo sớm những nguy cơ thua thiệt về lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động trong thu hút đầu tư nước ngoài để có đối sách thích hợp.

Thứ tư, có thể nói các quy định của Luật Cạnh tranh là chốt chặn cuối cùng để kiểm soát các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; bảo đảm cho các doanh nghiệp Việt Nam – đặc biệt là các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường không bị thâu tóm bởi doanh nghiệp nước ngoài. Điều 36, 37 Luật Cạnh tranh 2018 quy định về thẩm định sơ bộ, thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế nhưng trong nội dung thẩm định chưa có yêu cầu đánh giá về tác động đối với an ninh, quốc phòng.

Theo chúng tôi, bên cạnh các trường hợp cấm tiến hành tập trung kinh tế thông thường sẽ được Ủy ban Cạnh tranh quốc gia quyết định căn cứ vào tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam theo Điều 30 Luật Cạnh tranh năm 2018, cần bổ sung quy định về những trường hợp không cho phép tiến hành tập trung kinh tế trong trường hợp tập trung kinh tế đối với những ngành kinh tế chiến lược. Đây là biện pháp nhằm hạn chế việc mua lại, sáp nhập, hợp nhất… đối với những ngành hoặc doanh nghiệp quan trọng về kinh tế, hạ tầng chiến lược hoặc liên quan đến an ninh quốc gia. Đây chính là việc áp dụng ngoại lệ về an ninh quốc gia trong pháp luật đầu tư quốc tế. Các biện pháp có thể bao gồm việc hạn chế mới về sở hữu nước ngoài, quốc hữu hóa ngành dầu khí và các ngành nhạy cảm khác; đàm phán lại các ưu đãi với nhà đầu tư nước ngoài và lập danh sách các ngành đầu tư trực tiếp nước ngoài bị hạn chế.

Cơ sở của vấn đề này là nguy cơ các vụ tập trung kinh tế sẽ thâu tóm, chiếm lĩnh những ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp quan trọng về kinh tế, hạ tầng chiến lược hoặc liên quan đến an ninh quốc gia trong nền kinh tế. Một khi các trường hợp miễn trừ không còn tồn tại, việc áp dụng các biện pháp tương tự nhằm đạt được các mục tiêu chính trị, kinh tế, an ninh cũng vẫn phải được duy trì và chuyển sang thẩm quyền của cơ quan cạnh tranh. Về vấn đề này, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ Trung Quốc trong việc thực thi các chính sách nhằm bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia trong hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua sáp nhập, mua lại doanh nghiệp [19]. Việc bổ sung quy định như vậy cũng sẽ tạo cơ sở pháp lý và góp phần thể hiện vị trí và vai trò trung tâm của cơ quan cạnh tranh trong việc kiểm soát tập trung kinh tế [20].

Trên đây là một số đánh giá và đề xuất của tác giả nhằm hoàn thiện pháp luật thươg mại từ góc độ bảo đảm an ninh kinh tế.

                                                                                                                                                                                  H.N.A

        

CHÚ THÍCH VÀ TÀI  LIỆU THAM KHẢO

 

1. Tham khảo tại trang điện tử của Liên hợp quốc: http://www.un.org

2. Xem: Luận Thùy Dương, Khổng Thị Bình và Hoàng Thị Tuấn Anh:  Các thách thức an ninh phi truyền thống ở

khu vực Đông Nam A, In trong: Phạm Bình Minh (Chủ biên):  Cục diện thế giới đến 2020,  Nxb.Chính trị quốc

gia, H.2010,tr.559-597.

3. Chính phủ, Tờ trình Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) số 533/TTr-CP ngày 28/10/2019

 4. Cao Thanh Huyền, Một số giải pháp hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005 trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, Tạp chí Công thương Online, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/mot-so-giai-phap-hoan-thien-luat-thuong-mai-nam-2005trong-giai-doan-hien-nay-o-viet-nam-69593.htm, Truy cập: 16/12/2020

 5. Chính phủ, Tờ trình Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) số 530/TTr-CP ngày 28/10/2019

 6. Theo Điểm c Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư năm 2020:  Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế trước khi thay đổi thành viên, cổ đông nếu thuộc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh. Theo Điểm d Khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư năm 2020, trừ các dự án đầu tư quy định tại Điều 30 và Điều 31 của Luật này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.

 7. Nguyễn Thường Lạng, An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/an-ninh-trong-thu-hu%CC%81t-da%CC%80u-tu-nuo%CC%81c-ngoa%CC%80i-ta%CC%A3i-vie%CC%A3t-nam-trong-die%CC%80u-kie%CC%A3n-ho%CC%A3i-nha%CC%A3p-kinh-te%CC%81-quo%CC%81c-te%CC%81-7141/, Truy cập: 17/12/2020

 8. Theo Khoản 2 Điều 9 Luật Đầu tư năm 2020, Căn cứ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm:

a) Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường;b) Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện. Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế; b) Hình thức đầu tư; c) Phạm vi hoạt động đầu tư; d) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;đ) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

 9. Điều 10 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

 10. Điều 13 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư mới, ưu đãi đầu tư cao hơn thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư, trừ ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 20 của Luật này. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư.  Quy định trên không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường.

 11. Tác động hạn chế cạnh tranh là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường.

 12. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định vấn đề cạnh tranh là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, trong đó có pháp luật cạnh tranh. Điều 51, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”.

 13. Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định: Người nào trực tiếp tham gia hoặc thực hiện các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc một trong các trường hợp sau đây, thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: a) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; b) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; c) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

 14. Thanh Nhân, Vụ "làm giá" trứng gà: Sẽ thanh tra Công ty CP, Báo Người lao động Online, https://nld.com.vn/kinh-te/vu-lam-gia-trung-ga-se-thanh-tra-cong-ty-cp-20130118104446101.htm, Truy cập: 17/12/2020

 15. Nguyên Vỹ, Nguy cơ lũng đoạn thị trường thịt heo từ các công ty chăn nuôi, Báo Dân Việt Online, https://danviet.vn/nguy-co-lung-doan-thi-truong-thit-heo-tu-cac-cong-ty-chan-nuoi-77771045729.htm, Truy cập: 17/12/2020

 16. Xem thêm: Trần Văn Biên, Hoàn thiện các quy định của Luật Thương mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (366), tháng 7/2018

 17. Hải Yến, Cần thiết phải sửa đổi Luật Thương mại 2005, http://vinanet.vn/chi-dao-dieu-hanh/can-thiet-phai-sua-doi-luat-thuong-mai-2005-634401.html, Truy cập: 16/12/2020

 18. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, Báo điện tử Chính phủ, http://baochinhphu.vn/Phap-luat/Chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-lenh-nam-2021/399559.vgp, Truy cập: 16/12/2020

 19. Hiện nay, pháp luật Trung Quốc bảo vệ chặt chẽ các thương vụ mua lại các doanh nghiệp có vốn nhà nước (SOE). Theo đó, các thương vụ sáp nhập và mua lại (M&A) có liên quan đến SOE đều được giám sát tuyệt đối, chặt chẽ không làm lệch hướng phát triển kinh tế quốc gia. Các thương vụ M&A về doanh nghiệp nhà nước luôn giữ: an ninh quốc gia, quốc phòng, ngành công nghệ cao, ngành khai thác khoáng sản quý hiếm và nhiều ngành quan trọng khác sẽ không được bán cho bất cứ một nhà đầu tư nước ngoài nào hay một tổ chức tư nhân Trung Quốc. Các thương vụ M&A về doanh nghiệp nhà nước có công nghiệp mũi nhọn như: năng lượng, vận tải, truyển thông sẽ chỉ được bán một phần cho công ty nước ngoài nhưng phần lớn cổ phần của các SOE này vẫn phải được Chính phủ Trung Quốc nắm giữ. Mỗi thương vụ mua lại và sáp nhập liên quan tới doanh nghiệp nhà nước là một trụ cột trong một ngành công nghiệp sẽ chịu sự thẩm định kỹ lưỡng của các cơ quan nhà nước Trung Quốc có thẩm quyền. Xem Luật Chống độc quyền thông qua vào ngày 31/8/2007, có hiệu lực từ 1/8/2008, Quy định hướng dẫn bắt đầu hoạt động đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc (Ban hành cùng với Nghị định số 346 năm 2002 của Hội đồng nhà nước), Quyết định của Bộ Thương mại năm 2006 về quy định cho những nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động mua lại và sáp nhập đối với các công ty nội địa Trung Quốc (Provision for Foreign Investors to Merge and Acquire Domestic Enterprise).

 20. Hà Ngọc Anh, Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật Kinh tế thực hiện tại Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh năm 2017

 

 

 

 


 

 

 

arrow_upward