Xây dựng Đảng

Đức tính kiên định của Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhân tố quan trọng trong việc lựa chọn con đường Cách mạng Việt Nam

Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một quá trình gian truân của một con người giàu lòng yêu nước, đồng cảm và thấu hiểu cùng nỗi đau của dân tộc. Xuất phát từ tình cảm đặc biệt này, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, thử thách đến đâu, Người vẫn trung thành và kiên định với sự lựa chọn của cuộc đời mình, đó là “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, hạnh phúc của quốc dân” [7, tr.240], “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [7, tr.161]. Sự Trong Đại Từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng, kiên định là “vững vàng, không dao động, thay đổi lập trường, ý chí trước mọi trở lực” [13, tr.938]. Từ cách hiểu về nội hàm “kiên định” như trên, khi đối chiếu vào toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, ta dễ dàng nhận thấy Người chính là một biểu tượng, một tấm gương sáng ngời về sự kiên định.


Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (2/1930)

Kiên định lựa chọn mục tiêu, lý tưởng của cuộc đời.

Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành được sinh ra trong một bối cảnh xã hội Việt Nam rối ren, khi đất nước đã hoàn toàn rơi vào tay người Pháp. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, từ Nghệ An đến Huế, đâu đâu cậu Cung cũng tai nghe mắt thấy cuộc sống cơ cực, lầm than, đói khổ và tủi nhục của đồng bào ngay trên chính mảnh đất quê hương. Cậu đã khắc sâu trong ký ức hình ảnh về “những người Pháp thống trị nghênh ngang, hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam triều bệ vệ trong những chiếc áo gấm, hài nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt rè; còn phần đông người lao động thì chịu chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là những người nông dân rách rưới mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang thang trên đường phố…” [2, tr.13-14]. Rồi những lần “đun nước, pha chè tiếp khách… vừa giúp việc, vừa lắng nghe các bậc cha chú đàm luận văn chương thế sự” [1, tr.29], cậu càng hiểu biết thêm nhiều điều mới lạ, trong đó đau đớn nhất là nhục mất nước và họa diệt vong của nòi giống. Lúc bấy giờ, thế giới quan về thời cuộc và xã hội đương thời được hình thành trong con người Nguyễn Tất Thành. Với những nhận thức như vậy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành “đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào” [11, tr.12]. Đó cũng chính là mục tiêu, lý tưởng mà Nguyễn đặt ra cho cuộc đời mình, và để đạt được nó, anh lựa chọn con đường xuất dương sang Pháp và các nước phương Tây.

Mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Nguyễn Tất Thành lựa chọn được nhiều người đồng tình, đặc biệt là người cha - cụ Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng cũng không ít người muốn hướng anh theo con đường mà họ đang làm, trong đó có cả những người mà anh rất khâm phục như Phan Bội Châu. Cụ Phan biết đến Nguyễn Tất Thành ngay từ những ngày mà cậu Thành còn tấm bé, bởi sự thông minh, nhanh nhạy và hiếu học của cậu. Khi Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội, phát động phong trào Đông Du, ông muốn cậu Thành và những thanh niên Việt Nam yêu nước khác tham gia. Đã có ít nhất hai lần, ông cử người tìm gặp, thuyết phục Nguyễn Tất Thành xuất dương du học. Tháng 7/1905, ông Nguyễn Thức Canh - một trong những đồng chí của Phan Bội Châu trong Duy Tân hội tìm tới tận nhà để gặp cậu Thành nhưng không gặp, và sau này, trong cuốn Hồi ký Năm mươi bốn năm hải ngoại của Trần Trọng Khắc (tức Nguyễn Thức Canh), ông viết: “Tôi cùng cụ Sào Nam ở chung trong một thuyền. Chín mười ngày sau, lúc các đồng chí đã đến họp, bàn bạc xong, cụ lên đường ra Bắc, tôi cùng Ngư Hải tiên sinh đồng đi cáo biệt với cách mạng đồng chí và tìm thanh niên xuất dương du học. Cụ Phó bảng Thái Sơn đương thời có tặng tôi một bài thơ thất ngôn tuyệt cú để làm quà tiễn biệt. Chúng tôi trước tới nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc rủ anh Nguyễn Sinh Cung đồng đi, nhưng anh Cung đã đi ra Bắc không được gặp” [4, tr.86].

Lần thứ nhất tìm gặp nhưng không đạt mục đích, Phan Bội Châu sắp xếp cho cuộc tiếp xúc lần hai. Năm 1906, ông cử Đặng Thái Thân (cháu ruột của Đặng Tử Kính - một thành viên cốt cán trong Duy Tân hội) từ Nhật về Việt Nam, đến Huế thuyết phục ông quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cho phép người con trai thứ của Cụ - cậu Nguyễn Tất Thành sang Nhật du học như các thanh niên Việt Nam khác. Để nhận được sự đồng ý của Thành, Đặng Thái Thân đã vừa diễn giải vừa ca ngợi rất nhiều về nước Nhật bằng những mỹ từ tốt đẹp, chẳng hạn như “nước Nhật ngày nay tân tiến và hùng mạnh lắm. Người Nhật đã hứa sẵn sàng giúp Việt Nam mình đánh đuổi giặc Tây dương”, “nước Nhật vừa đánh bại nước Nga Sa hoàng. Nhật đã trở thành một cường quốc mạnh nhất châu Á. Các đế quốc châu Âu không dám nhòm ngó đến dải đất Phù Tang… ta với Nhật là hai nước ở gần nhau, cùng giống da vàng, họ sẽ hết lòng giúp ta đánh đuổi quân bạch quỷ” [12, tr.194-195]. Tuy nhiên, đến phần tranh biện của mình, cậu Thành đã làm cho Đặng Thái Thân trăn trở, phân vân về con đường, hướng đi mà mình cùng những người khác đã chọn. Nguyễn Tất Thành đã chứng minh sự thương yêu, giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác không xuất phát từ yếu tố địa lý - lịch sử: “nước ta với nước Tàu ở gần nhau như hai nhà liền vách, chung sân, lại cùng giống da vàng, viết chung một thứ chữ Hán. Vậy mà nước Tàu đã bao phen thống trị nước ta, mưu toan diệt nòi người Nam. Rồi ngay cả Nhật cũng đã chiếm nước Cao Ly (tức Triều Tiên) làm thuộc địa. Vậy thì người Nhật họ thương gì người Nam ta! Không khéo ta lại đi làm cái chuyện: đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau?” [12, tr.195]. Những điều mà Nguyễn Tất Thành vừa phân trần càng làm cho Đặng Thái Thân thêm phần khâm phục.

Tiếp đến, Đặng Thái Thân muốn biết lối suy nghĩ của Nguyễn Tất Thành về cách làm “dựa vào người Pháp đánh đổ ngai vàng, xóa bỏ hệ thống vua quan, nới rộng dân quyền, chấn hưng kinh tế, nâng cao dân sinh, dân trí” của Phan Chu Trinh. Thành cởi mở: “Nới rộng dân quyền, mở mang kinh tế, nâng cao dân sinh, dân trí là mơ ước của mọi người từ bao đời nay. Nhưng dựa vào người Pháp mà thực hiện mơ ước ấy là điều phi lý,… chẳng khác gì “cầu quỷ sứ về khử thần trùng”. Ai lại nhờ kẻ cưỡi cổ dân mình để giải thoát cho dân mình” [12, tr.196]. Nhận xét này về cách làm của Phan Chu Trinh, ngụ ý của Nguyễn Tất Thành là không tán đồng. Trước sau như một, dù là trong nước hay ở nước ngoài, ý định của cụ Phan vẫn không thay đổi: “Pháp là một nước văn minh. Pháp đã đem ánh sáng và hiểu biết cho chúng ta. Chúng ta chỉ cẩn những cuộc cải cách thôi. Kẻ gây nên những điều bất hạnh cho dân ta chỉ là nhà vua điên rồ, bọn quan lại phong kiến và lũ hào lý tham nhũng. Việt Nam cần có nền cộng hòa và bàn tay của nước mẹ Đại Pháp” [14, tr.83]. Tuy nhiên, ngôn từ của cụ Phan khi nhắc đến văn minh Pháp đã không thể thuyết phục được Nguyễn Tất Thành: “Bác (Phan Chu Trinh) nói đến nền văn minh nào đấy… lẽ nào bác chưa biết đến vô vàn những tội ác mà bọn thực dân Pháp gây ra trên đất nước ta? Nhà tù nhiều hơn trường học và nhà tù nào cũng chật ních tù nhân. Dân ta bị phân biệt đối xử, họ không có lấy một chút quyền sơ đẳng nào. Bọn thực dân chẳng những áp bức mà còn nhạo báng, khinh miệt nước ta, chúng còn cưỡng bức dân ta phải uống rượu, hút thuốc phiện để đầu độc chúng ta, làm chúng ta ngu đần… Đừng có trông mong vào sự từ tâm của bọn thực dân. Bàn bạc với chúng thì có khác gì đàn gảy tay trâu. Chỉ bằng sức mạnh mới đòi lại được tự do cho đất nước, cháu không thấy có con đường nào khác” [14, tr.83-84]. Với đức tính kiên định, luôn luôn hướng theo cái mới và xa lạ với bất kỳ biểu hiện nào của thói bảo thủ, Hồ Chí Minh đã “không khuất phục những ảo tưởng về xã hội và những lầm lạc về chính trị của đại biểu phong trào dân tộc - yêu nước cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX… tránh được nọc độc của chủ nghĩa cải lương” [14, tr.86].

Đối mặt với hiểm nguy, thử thách, Hồ Chí Minh vẫn giữ vẹn tấm lòng son sắt với con đường cách mạng đã chọn.

Năm 1911, khi đặt những bước chân đầu tiên trên đất Pháp ở cảng Mácxây (Marseille), đối với Nguyễn Văn Ba cái gì cũng là mới mẻ, cũng cần phải khám phá và cũng từ đây, Nguyễn Văn Ba phải đương đầu với những hiểm nguy, thách thức mà chắc hẳn trong quyết tâm của mình, Người đã phần nào dự tính trước.

Một là, đối mặt nhiều khó khăn, thử thách trong quá trình hoạt động cách mạng.

Lần đầu tiên người ta thấy sự xuất hiện của một nhân vật có tên Nguyễn Ái Quốc là sau Hội nghị hòa bình được tổ chức tại thành phố Vécxây (Versailles) của Pháp ngày 18/6/1919, đang phân phát từng tờ truyền đơn với tiêu đề Việt Nam yêu cầu ca (bằng tiếng Việt theo thể thơ gieo vần lục bát) và An Nam nhân dân thỉnh nguyện thư (tiếng Trung Quốc). Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã chấp nhận đối mặt với hiểm nguy, thậm chí nguy hiểm về tính mạng nếu sa lưới cảnh sát. Một thời gian sau, Nguyễn Ái Quốc nhận được một bức thư, bên ngoài đề Phòng Mật thám, mời đến gặp Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp lúc bấy giờ là Anbe Xarô (Albert Sarraut). Cuộc gặp này là hoàn toàn bất lợi đối với Nguyễn Ái Quốc, không chỉ đơn thuần là cuộc nói chuyện giữa hai con người cá nhân, mà còn là cuộc “đụng độ” giữa một người đại diện cho nhân dân Việt Nam đang bị Pháp đô hộ một cách tàn nhẫn với một người đại biểu của chế độ đế quốc thực dân Pháp dang áp bức bóc lột Việt Nam, “nắm trong tay cả quyền bính kinh tế, chính trị, quân sự, cảnh sát, tòa án, trại giam ở các thuộc địa…có quyền bắt giải Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, gắn cho tội tuyên truyền cộng sản, rồi đưa lên máy chém” [8, tr.16].

Tuy nhiên, vì Anbe Xarô là người đã có đến hai nhiệm kỳ làm Toàn quyền Liên bang Đông Dương (1911 - 1914 và 1917 - 1919) nên hiểu rất rõ tinh thần yêu nước của người An Nam. Do vậy, thái độ của Xarô chuyển từ dọa nạt sang dụ dỗ, mua chuộc qua ba lần gặp Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến năm 1922. Trong những lần ấy, Xarô lúc thì tỏ ra rất cứng rắn khi đối diện Nguyễn Ái Quốc: “Hiện nay có những kẻ ngông cuồng hoạt động ở Pháp. Họ liên lạc với bọn Bônsơvích ở Nga. Từ Nga họ liên lạc với Quảng Đông. Và từ Quảng Đông họ liên lạc với Việt Nam. Chính phủ Pháp biết rõ hết những đường dây liên lạc đó! Họ âm mưu phá rối trật tự trị an ở Đông Dương và chống đối nhà nước bảo hộ. Nước mẹ Đại Pháp rất khoan hồng, nhưng sẽ không tha thức những kẻ gây rối loạn… Nước mẹ Đại Pháp đủ sức để bẽ gãy họ” [8, tr.18]; có lúc, ông ta lại mềm mỏng, lắng nghe và đồng cảm, sau đó mua chuộc và vô hiệu hóa khả năng đấu tranh của những người An Nam yêu nước. Xarô hy vọng trong cuộc gặp Nguyễn Ái Quốc cũng không phải là ngoại lệ: “Tôi rất thích những thanh niên có chí khí như ông. Có chí khí là tốt, nhưng còn phải “thức thời” mới ngoan. Ồ này! Khi nào ông có cần gì tôi luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ ông. Từ nay, chúng ta đã quen biết nhau, ông không nên khách sáo” [8, tr.18]. Trước những lời dọa nạt, dụ dỗ từ vị bộ trưởng, Nguyễn Ái Quốc vẫn không thay đổi quyết tâm sắt đá của mình: “Cảm ơn ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập” [8, tr.18].

Vượt qua “thử thách” Anbe Xarô, Hồ Chí Minh còn tiếp tục đối diện với những khó khăn khác mà chế độ thực dân mang lại mà sự kiện Người lần lượt bị chính quyền thực dân Anh, Tưởng Giới Thạch bắt giam trong những năm 1931 và 1942 là những minh chứng rõ nét nhất. Ngày 06/6/1931, Tống Văn Sơ (một bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc lúc hoạt động ở Hồng Kông) bị chính quyền thực dân Anh bắt giam ở nhà tù Victoria. Tống Văn Sơ bị vu cáo là một người Bônsơvích cực kỳ nguy hiểm và có âm mưu lật đổ chính quyền người Anh ở Hương Cảng, có thể bị tù đày, tra khảo và thậm chí là bị giết; nếu có thoát khỏi “móng vuốt” của thực dân Anh thì cũng sẽ nằm trong tay mật thám Pháp, đang “chầu chực ở Cảng… vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh dùng mọi cách để trao Bác cho chúng… tàu thủy chờ sẵn ở Cảng, nếu tòa án ký lệnh “trục xuất” là chúng tóm Bác đưa lên tàu chở về Việt Nam ngày (để thực thi bản án tử hình vắng mặt năm 1929 được tổ chức ra ở Vinh - TG)” [8, tr.51]; còn may mắn được thả tự do khi chứng minh mình vô tội, thoát ra khỏi Hương Cảng thì Người sẽ bị đặc vụ Quốc dân Đảng bắt theo chính sách khủng bố trắng mà Tưởng Giới Thạch đưa ra đối với những người cộng sản đang hoạt động tại Trung Quốc.

Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn phải chịu đựng một cuộc sống thiếu thốn, vất vả. Người bị giam trong những xà lim “bề cao 3 thước tây, mà bề ngang chỉ hơn một thước, bề dọc không đầy hai thước, bề rộng chỉ vừa một người nằm xiên xiên”, ánh sáng ban ngày chỉ lọt vào xà lim “một cách rụt rè, bỡ ngỡ… qua một cái cửa sổ nhỏ hình nửa mặt trăng lờ mờ, bị song sắt và lưới sắt bưng bít” [8, tr.57], thức ăn của người tù mỗi ngày ăn “hai bữa cơm gạo xay, một phần tư là thóc. Hôm nay, thức ăn buổi sáng có rau muống, bữa chiều có mắm thối hoặc cá ươn. Hôm sau, thay đổi “khẩu vị”, bữa sáng có mắm thối hoặc cá ươn, bữa chiều có rau muống” [8, tr.58]. Người đã trải qua cuộc sống thiếu thốn, khắc nghiệt thậm chí là có thể mất cả tính mạng ròng rãi ba năm trời (1931 - 1934). Nhưng trong ngần ấy thời gian, Người chỉ có một nỗi lo duy nhất: “những việc mình làm chưa xong, ai sẽ tiếp tục làm thay? Ít nhiều kinh nghiệm mình đã gom góp được, làm thế nào để truyền lại cho đồng chí khác? Những mối manh và những địa điểm chỉ có mình biết, từ nay ai sẽ xây dựng lại? Ai sẽ hướng dẫn những đảng viên mới, những chiến sĩ mới, anh dũng có thừa nhưng kinh nghiệm còn thiếu?... Ngổn ngang trăm mối bên lòng, ngủ không yên giấc, ăn không ngon mồm” [8, tr.58-60]. Dù vậy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh vẫn kiên định một lòng hướng về đất nước, về nhân dân, về vận mệnh của cách mạng.

Hai là, chấp nhận, vượt qua thử thách để bảo vệ, giữ vững lập trường cách mạng.

Lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trong thời kỳ 1921 - 1930, sau khi người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (tháng 7/1920). Thành quả của quá trình mười năm gian truân này đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 02/1930) - chính đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, kể từ sau Hội nghị hp nhất các tổ chức cộng sản (06/01/1930 - 07/02/1930), lý luận cách mạng thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc đã vấp phải sự phê phán, chỉ trích. Quốc tế Cộng sản đánh giá việc Nguyễn Ái Quốc triệu tập, chủ trì Hội nghị hợp nhất đi đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một việc làm được thực hiện “bằng một con đường khác mà Quốc tế Cộng sản không lường trước” [3, tr.384]; “Nội cái tên ấy cũng đủ chứng minh rằng: a) Ở các đại biểu còn rơi rớt những tàn dư của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi; b) Các đại biểu chưa nhận thức được vị trí quan trọng của Cao Miên, Ai Lao và những dân tộc ít người khác trong cuộc đấu tranh phản đế và phản phong ở Đông Dương; c) Công cuộc thống nhất chưa hoàn toàn thủ tiêu được hẳn tư tưởng nhóm phái của các nhà lãnh đạo các tổ chức cộng sản (những khuynh hướng chia rẽ của một số người lãnh đạo ở Bắc Kỳ năm 1931 là một bằng chứng)” [10, tr.263-264]; Hội nghị “đã làm sai chủ nghĩa Lênin, vì khẳng định rằng sách lược quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức không cho phép thành lập một Đảng Cộng sản cho công nhân tất cả các dân tộc ở Đông Dương, mà chỉ riêng cho công nhân của nước Việt Nam, do đó đã lấy tên là “Đảng Cộng sản Việt Nam” [10, tr.151]...

Trên tinh thần ấy, các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhận định: “đề ra sách lược sai lầm: dựa vào nông dân nghèo đoàn kết với trung nông, tiểu tư sản, trí thức, trung lập phú nông, tiểu và trung địa chủ”, “cương lĩnh của Hội nghị hợp nhất là trái ngược với học thuyết Lêninnít, với đường lối chính trị của Quốc tế Cộng sản…” [10, tr.151-266]. Tháng 9/1934, Nguyễn Ái Quốc được Ban Phương Đông gửi đến điều dưỡng tại nhà an dưỡng Ximêít ở vùng Crưm; tháng 10 cùng năm, với bí danh Lin, số hiệu 375, Nguyễn Ái Quốc được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin năm học 1934 - 1935 (theo Quyết định số 45, ngày 02/10/1934) [5, tr.56]; còn về công việc, sau Hội nghị hợp nhất Người chỉ làm mỗi việc duy nhất là “thùng thơ” [6, tr.78]. Tuy nhiên, với ý chí sắt đá, cùng với những phẩm chất cá nhân cao quý, nhất là đức tính kiên định, Người đã vượt lên khó khăn, thử thách, kiên trì bảo vệ quan điểm của mình, từng bước thuyết phục tổ chức đảng và các đồng chí, đồng đội. Thực tế lịch sử đã chứng minh lý luận của Người đề ra từ năm 1930 là hoàn toàn đúng đắn. Sau Đại hội VII diễn ra vào tháng 7/1935, Quốc tế Cộng sản đã nhìn nhận lại những sai lầm, khiếm khuyết của mình và đồng ý cho phép Nguyễn Ái Quốc về gần nước hơn để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đến ngày 28/01/1941, sau 30 năm bôn ba nơi đất khách quê người, Nguyễn Ái Quốc về đến Việt Nam, chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5/1941) chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, giương cao ngọn cờ dân tộc, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, thành lập Mặt Việt Minh, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Từ những năm tháng tuổi trẻ khi vừa xác định mục tiêu, lý tưởng, con đường cứu nước, cứu dân đến những tháng ngày hoạt động cách mạng gian truân để giữ vững mục tiêu, lý tưởng đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trải qua những bước ngoặt quan trọng của đời mình bằng chính những trải nghiệm, nghị lực phi thường và hơn hết là đức tính kiên định vượt qua khó khăn, thách thức.


Các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên Trường Đại học An ninh nhân dân đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng bài học về đức tính kiên định của Người vẫn còn nguyên giá trị, mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt học tập và làm theo, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khimuôn vàn những thói hư, tật xấu, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại. Nó giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên củng cố lòng kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, phát huy khát vọng, ý chí xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trong Di chúc thiêng liêng./.

Bài: Khoa K1, Ảnh: tư liệu


TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (1980), Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

2. Bảo tàng Hồ Chí Minh (2015), Hồ Chí Minh - Tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005a), Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005b), Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. T.Lan (2008), Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chi Minh.

9. Trương Quân - Đoàn Như Trác (2006), Vận mệnh của tính kiên định, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

10. Hà Huy Tập (2006), Một số tác phẩm, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11. Trần Dân Tiên (2004), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Nghệ An, Nghệ An.

12. Sơn Tùng (2013), Búp sen xanh, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội.

13. Nguyễn Như Ý (1999), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

14. -, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội

arrow_upward